Sốc văn hoá sau định cư là trạng thái căng thẳng kéo dài khi những cách sống, cách giao tiếp, cách làm việc quen thuộc không còn hiệu quả ở nước mới, trong khi bạn chưa nắm được cách mới. Nó khác cảm giác lạ khi đi du lịch ở chỗ không có ngày về để chờ, và khác du học ở chỗ cả gia đình cùng trải qua một lúc, mỗi người với một nhịp riêng.
Biểu hiện thường gặp là mệt mỏi không rõ lý do, dễ cáu, nhớ nhà, so sánh mọi thứ với Việt Nam, tránh ra ngoài, nghi ngờ quyết định đi định cư. Phần lớn những cảm giác này giảm dần khi bạn xây được nếp sống mới, nhưng không tự biến mất chỉ nhờ thời gian. Bài này giải thích các mô hình nghiên cứu về sốc văn hoá và giới hạn của chúng, những nhóm trong gia đình dễ vấp nhất, và các việc cụ thể giúp đi qua năm đầu.
Khái niệm từ đâu ra và mô hình chữ U
Thuật ngữ sốc văn hoá được nhà nhân học Kalervo Oberg phổ biến, với bài viết năm 1960 mô tả tâm trạng lo âu khi người ta mất đi những dấu hiệu quen thuộc của giao tiếp xã hội: cách chào hỏi, khi nào nên nhận lời, lúc nào lời nói là nghiêm túc. Ông mô tả một chuỗi giai đoạn từ hào hứng ban đầu, qua khủng hoảng, rồi tới hồi phục và thích nghi.
Trước đó, năm 1955, Sverre Lysgaard khi nghiên cứu học giả Na Uy ở Mỹ đã đề xuất đường cong chữ U: mức thích nghi cao lúc đầu, tụt xuống trong khoảng sáu tháng tới một năm rồi đi lên. Vợ chồng Gullahorn năm 1963 mở rộng thành chữ W để tính thêm cú sốc khi quay về nước.
Mô hình chữ U dễ nhớ và vẫn hay được dùng trong tài liệu hướng dẫn. Nhưng các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho kết quả không ủng hộ hoàn toàn. Một nghiên cứu theo dõi dọc của Colleen Ward và cộng sự năm 1998 trên sinh viên Nhật ở New Zealand cho thấy khó khăn lớn nhất xuất hiện ngay lúc mới đến rồi giảm dần, chứ không có giai đoạn "trăng mật" rõ ràng. Nói cách khác, không phải ai cũng hào hứng trước rồi mới khủng hoảng sau.
Điều hữu ích cho người định cư là: cảm giác khó khăn trong năm đầu là phổ biến và có quy luật, không phải dấu hiệu bạn chọn sai; nhưng cũng không nên chờ "đến tháng thứ sáu sẽ hết" vì nhịp của mỗi người khác nhau.
Hai loại thích nghi cần phân biệt
Thích nghi tâm lý. Là cảm xúc của bạn: có thấy ổn không, có buồn bã, lo âu kéo dài không. Phần này chịu ảnh hưởng lớn của sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, tính cách và những biến cố trong cuộc sống. Người có cộng đồng đồng hương thân thiết thường ổn hơn về mặt này.
Thích nghi văn hoá xã hội. Là khả năng làm được việc: đi ngân hàng, đọc thư của trường con, nói chuyện với hàng xóm, hiểu ý đồng nghiệp. Phần này phụ thuộc vào ngôn ngữ, thời gian tiếp xúc với người bản xứ và kiến thức về nơi ở mới. Nó thường cải thiện đều theo thời gian và có thể học có chủ đích.
Hai phần không luôn đi cùng nhau. Có người làm được mọi việc nhưng vẫn buồn bã, cô đơn; có người vui vẻ nhưng sống hoàn toàn trong cộng đồng tiếng Việt và vẫn chưa tự xử lý được giấy tờ. Khi thấy mình chưa ổn, hãy tự hỏi đang thiếu phần nào để chọn đúng cách bù.
Bốn chiến lược tiếp biến văn hoá. Nhà tâm lý học John W. Berry chia cách người nhập cư xử lý hai nền văn hoá thành bốn kiểu: hội nhập (giữ văn hoá gốc và tham gia văn hoá mới), đồng hoá (bỏ văn hoá gốc), tách biệt (chỉ giữ văn hoá gốc) và bên lề (rời cả hai). Nhiều nghiên cứu theo khung này cho thấy hội nhập thường gắn với kết quả thích nghi tốt hơn, dù mức độ khác nhau theo bối cảnh nước đến.
Mỗi người trong nhà vấp ở một chỗ khác nhau
Gia đình sang cùng lúc nhưng không thích nghi cùng nhịp. Nhận ra chỗ vấp của từng người giúp tránh trách nhau:
| Thành viên | Chỗ hay vấp | Điều giúp được |
|---|---|---|
| Người đi làm | Mất vị thế nghề nghiệp, làm việc dưới sức, áp lực kiếm tiền nuôi cả nhà | Kế hoạch quay lại nghề có mốc thời gian, nhóm đồng nghiệp cùng ngành gốc Việt |
| Người ở nhà chăm con | Cô lập, ít dịp nói tiếng, phụ thuộc vào người đi làm cả về tiền lẫn đi lại | Lớp tiếng cho người nhập cư, nhóm phụ huynh ở trường, tự lái xe hoặc đi xe công cộng được |
| Con tuổi mới lớn | Mất bạn bè cũ, bị xếp lớp hỗ trợ ngôn ngữ, khó hoà nhập nhóm bạn mới | Câu lạc bộ thể thao, nghệ thuật ở trường, không ép so với thành tích ở Việt Nam |
| Con nhỏ | Thường thích nghi nhanh nhất, nhưng dễ bị kéo vào làm phiên dịch cho người lớn | Giữ con đúng vai trò trẻ con, dùng phiên dịch chính thức |
| Ông bà | Cô đơn ban ngày, mất khả năng tự đi lại, đảo vai trò trong nhà | Hội người cao tuổi gốc Việt, sinh hoạt cộng đồng, việc nhà có ý nghĩa |
Khoảng cách tiếp biến văn hoá giữa cha mẹ và con là một nguồn căng thẳng được nghiên cứu nhiều. Con hội nhập nhanh, nói tiếng mới giỏi hơn cha mẹ, mang về những chuẩn mực khác; cha mẹ cảm thấy mất quyền, con cảm thấy không được hiểu. Nhận ra đây là hiện tượng chung, không phải "con hư" hay "cha mẹ cổ hủ", là bước đầu để nói chuyện được với nhau.
Những va chạm văn hoá cụ thể người Việt hay gặp
Sốc văn hoá ít khi đến từ chuyện lớn; nó tích luỹ từ hàng trăm khác biệt nhỏ mỗi ngày. Một số khác biệt người Việt hay kể khi sang các nước Bắc Mỹ, Úc, Tây Âu:
- Nói thẳng và từ chối thẳng là lịch sự, không phải thô lỗ; ngược lại cách nói vòng của người Việt dễ bị hiểu là đồng ý.
- Hẹn giờ là giờ chính xác; đến muộn mười lăm phút không được coi là bình thường, kể cả với bạn bè.
- Hỏi tuổi, thu nhập, cân nặng, chuyện có con chưa bị coi là riêng tư, dù ở Việt Nam là câu xã giao.
- Dịch vụ công vận hành bằng thư từ, mẫu đơn, hẹn trước và hàng chờ; quen biết ít khi giúp được.
- Nhà cửa yên tĩnh, hàng xóm ít qua lại; tiếng ồn sau giờ quy định có thể bị nhắc hoặc báo chính quyền địa phương.
- Cha mẹ không được để trẻ nhỏ ở nhà một mình hoặc phạt con bằng đòn roi; nhiều nơi coi đó là vi phạm pháp luật bảo vệ trẻ em.
- Tiền boa ở nhà hàng tại Mỹ, Canada gần như bắt buộc; ở Úc, New Zealand thì không phổ biến.
Không cần thích hết những khác biệt này. Chỉ cần hiểu chúng để không đọc sai ý người khác, và biết khi nào mình đang làm điều có hậu quả pháp lý như việc trông và dạy con.
Đi qua năm đầu: những việc làm được ngay
Không có cách tắt, nhưng có những việc rút ngắn thời gian khó khăn:
- Tạo nếp sinh hoạt cố định trong tuần đầu tiên: giờ dậy, giờ đi bộ, chợ cuối tuần. Nếp quen giảm cảm giác mất phương hướng.
- Chọn một "điểm neo" địa phương: thư viện công cộng, lớp tiếng, nhóm tình nguyện, câu lạc bộ thể thao. Đến đều đặn để có người quen biết mặt.
- Giữ liên lạc với gia đình ở Việt Nam nhưng đặt giờ. Gọi video suốt ngày làm bạn sống nửa ở đây, nửa ở quê, khó bén rễ.
- Tham gia cộng đồng người Việt để có chỗ dựa, đồng thời có ít nhất một hoạt động với người bản xứ.
- Ghi lại những thứ bạn đã làm được mỗi tuần, dù nhỏ: tự gọi điện đặt hẹn bác sĩ, tự đi xe buýt tới chỗ mới. Năm đầu dễ chỉ nhìn thấy những gì chưa làm được.
- Cả nhà dành một buổi mỗi tuần nói chuyện về việc thích nghi, mỗi người kể một khó khăn và một điều vui. Việc này giúp không ai chịu đựng một mình.
- Hoãn những quyết định lớn như bỏ về, đổi thành phố, đổi diện cư trú cho tới khi đã qua ít nhất một chu kỳ bốn mùa, trừ khi có lý do cấp bách.
Mục cuối cùng quan trọng: nhiều gia đình quyết định quay về trong lúc khó khăn nhất, rồi tiếc khi đã mất tư cách cư trú. Nên quyết định dựa trên một năm đủ mùa, không dựa trên mùa đông đầu tiên.
Khi nào sốc văn hoá đã thành vấn đề sức khoẻ tinh thần
Buồn, nhớ nhà, mệt mỏi trong vài tuần là bình thường. Nhưng nếu kéo dài nhiều tuần liền, kèm mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, mất hứng thú với mọi thứ kể cả những gì từng thích, ăn uống thay đổi rõ, khó tập trung, cảm giác vô vọng hay ý nghĩ làm hại bản thân, thì đó có thể là trầm cảm hoặc rối loạn lo âu cần được hỗ trợ chuyên môn.
Người Việt thường ngại nói về sức khoẻ tinh thần, coi đó là chuyện yếu đuối hay phải tự vượt qua. Ở các nước định cư phổ biến, bác sĩ gia đình là cửa đầu tiên: bạn được nói thật cảm xúc của mình, bác sĩ sẽ đánh giá và giới thiệu tư vấn tâm lý nếu cần. Nhiều nơi có tổ chức cộng đồng hỗ trợ người nhập cư với tư vấn viên nói tiếng Việt, và đường dây khủng hoảng hoạt động suốt ngày đêm.
Nếu bạn hay người thân có ý nghĩ tự hại, đó là tình huống khẩn cấp: gọi số cấp cứu của nước đang sống hoặc đường dây hỗ trợ khủng hoảng, và không để người đó ở một mình. Nên tra trước và lưu số đường dây hỗ trợ của nơi bạn ở ngay trong tuần đầu tiên, giống như lưu số cấp cứu.
Người đi làm trong gia đình cũng cần được để ý: áp lực kiếm tiền và mất vị thế nghề nghiệp làm nhiều người chịu đựng trong im lặng, đến khi kiệt sức mới lộ ra.
Sốc văn hoá ở nơi làm việc
Cấp trên muốn nghe ý kiến trái chiều. Ở nhiều công ty Bắc Mỹ, Úc, người quản lý chờ nhân viên phản biện trong cuộc họp. Im lặng vì nể có thể bị hiểu là không có ý kiến hoặc không quan tâm. Người Việt quen chờ được hỏi, nên thời gian đầu hay bị đánh giá thấp hơn năng lực thật.
Ranh giới giờ làm và đời tư rõ ràng hơn. Gửi tin nhắn công việc vào tối muộn hay cuối tuần ít được chấp nhận; ngược lại, ở lại muộn để thể hiện chăm chỉ cũng không được ghi nhận như ở Việt Nam. Hiệu quả được đo bằng kết quả trong giờ.
Chuyện phiếm nơi công sở có quy tắc. Đồng nghiệp hỏi cuối tuần làm gì, nói chuyện thời tiết, thể thao; ít khi hỏi chuyện gia đình riêng tư hay thu nhập. Những câu chuyện ngắn này là cách xây quan hệ, không phải mất thời gian.
Phản hồi được nói kiểu "bánh kẹp". Nhận xét thường mở bằng lời khen, giữa là điều cần sửa, cuối là lời động viên. Người mới sang hay chỉ nghe phần khen và bỏ lỡ phần cần sửa. Khi không chắc, hỏi lại: "điều quan trọng nhất cần làm khác là gì".
Câu hỏi thường gặp
Sốc văn hoá thường kéo dài bao lâu?
Không có con số chung. Mô hình chữ U gợi ý giai đoạn khó trong vòng một năm đầu, nhưng các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy nhịp mỗi người khác nhau, nhiều người khó nhất ngay lúc mới đến. Ngôn ngữ, việc làm và mạng lưới quan hệ là ba yếu tố quyết định nhanh hay chậm.
Sống trong khu đông người Việt có giúp giảm sốc văn hoá không?
Giúp về mặt cảm xúc vì có chỗ dựa, đồ ăn quen, người nói cùng ngôn ngữ. Nhưng nếu chỉ sống trong cộng đồng đồng hương thì phần thích nghi văn hoá xã hội như ngôn ngữ, hiểu quy định, tìm việc ngoài cộng đồng sẽ chậm. Cân bằng cả hai thường tốt nhất.
Con nhỏ có bị sốc văn hoá không?
Có, dù thường thích nghi nhanh hơn người lớn. Trẻ có thể thu mình, khó ngủ, quấy khóc hay từ chối đi học trong thời gian đầu. Giữ nếp sinh hoạt ổn định ở nhà, trao đổi với giáo viên và không ép con phải giỏi ngay giúp trẻ qua giai đoạn này.
Về thăm Việt Nam sớm có làm thích nghi chậm lại không?
Không có quy tắc chung. Một chuyến thăm có thể giúp nạp lại năng lượng, nhưng về quá sớm và quá lâu trong năm đầu có thể làm nếp sống mới chưa kịp hình thành và ảnh hưởng điều kiện cư trú. Nhiều gia đình chọn chờ qua mùa đông đầu tiên.
Cảm giác mất vị thế khi phải làm việc dưới sức có phải là sốc văn hoá?
Đó là một phần rất phổ biến của quá trình thích nghi ở người nhập cư có trình độ. Nó vừa là áp lực tài chính vừa là tổn thương về bản sắc. Một kế hoạch quay lại nghề có mốc rõ ràng và việc nhìn công việc hiện tại như giai đoạn tạm giúp nhiều người giữ được tinh thần.
Vợ chồng thích nghi lệch nhịp nhau thì nên làm gì?
Thừa nhận là bình thường khi hai người khác nhau về công việc, ngôn ngữ, thời gian ra ngoài. Tránh đổ lỗi, chia lại việc nhà và việc ra ngoài để người ở nhà có cơ hội học tiếng, kết bạn. Nếu căng thẳng kéo dài, tư vấn gia đình là dịch vụ phổ biến ở các nước định cư.