Hệ thống nhập cư Mỹ hôm nay là kết quả của hơn hai thế kỷ luật chồng lên luật, và nhiều thứ bạn gặp trong hồ sơ, từ diện F4 anh chị em, hạn ngạch theo nước, đến EB-5, đều có ngày sinh rõ ràng. Hiểu nguồn gốc giúp bạn đọc đúng vì sao có thời gian chờ, vì sao người cùng nộp một năm mà nước này chờ lâu hơn nước kia, và vì sao những thay đổi luật lớn rất hiếm mà những thay đổi về thủ tục thì xảy ra thường xuyên.
Bài này đi theo mốc thời gian, chỉ nêu các đạo luật và chương trình đã thành sử, tập trung vào những gì còn để lại dấu vết trong hồ sơ hôm nay và trong lịch sử cộng đồng người Việt ở Mỹ. Đây không phải bài bình luận chính sách; ai muốn biết quy định hiện hành nên đọc trực tiếp trên trang của USCIS và Bộ Ngoại giao Mỹ.
Từ năm 1790 đến cuối thế kỷ 19: cửa mở nhưng không bình đẳng
Đạo luật Nhập tịch đầu tiên năm 1790 chỉ cho “người da trắng tự do” được nhập quốc tịch, sau vài năm cư trú. Trong gần một thế kỷ đầu, Mỹ hầu như không giới hạn số người tới; việc nhập cư do các bang và cảng tự lo. Hàng triệu người từ Ireland, Đức, rồi Ý, Đông Âu đến trong thế kỷ 19, phần lớn qua các cảng miền Đông.
Năm 1882, Đạo luật Loại trừ người Hoa cấm lao động người Hoa nhập cư, là luật liên bang đầu tiên chặn một nhóm theo nguồn gốc. Luật này chỉ được bãi bỏ năm 1943. Cùng thời kỳ, chính quyền liên bang nắm quyền kiểm soát nhập cư và lập các trạm kiểm tra: Ellis Island ở New York hoạt động từ năm 1892 đến năm 1954, trạm Angel Island ở vịnh San Francisco hoạt động từ năm 1910 đến năm 1940 và là nơi nhiều người châu Á bị giữ lại thẩm vấn nhiều tuần.
Dấu vết còn lại hôm nay: khái niệm “không được nhập cảnh” vì lý do sức khoẻ, lý lịch, khả năng tự nuôi sống bản thân đã có từ cuối thế kỷ 19 và phát triển thành danh sách lý do không được nhập cảnh trong luật hiện hành. Buổi khám sức khoẻ di trú bạn làm trước khi phỏng vấn là hậu duệ xa của những buổi khám ở Ellis Island.
Năm 1924: hạn ngạch theo nguồn gốc quốc gia
Đạo luật Nhập cư năm 1924 đặt hạn ngạch hằng năm cho từng nước, tính theo tỷ lệ dân số có nguồn gốc từ nước đó trong một kỳ điều tra dân số cũ. Cách tính này ưu tiên người từ Bắc và Tây Âu, giảm mạnh số người từ Nam, Đông Âu, và gần như chặn hẳn người từ châu Á. Đây là khung chính của nhập cư Mỹ suốt bốn thập niên.
Năm 1952, Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch (thường gọi tắt là INA) gộp các luật rời rạc thành một bộ luật, bỏ điều cấm theo chủng tộc trong nhập tịch nhưng vẫn giữ hệ hạn ngạch theo nguồn gốc. Điều đáng nhớ là INA năm 1952 vẫn là bộ luật nền đang có hiệu lực: các đạo luật về sau đều là sửa đổi trên nó, và khi văn bản chính thức dẫn “INA section …”, đó là điều khoản trong bộ luật này.
Nhiều người tìm “chính sách nhập cư năm 1924” vì gặp khái niệm hạn ngạch theo nước trong hồ sơ hôm nay. Hai thứ khác nhau: hạn ngạch năm 1924 dựa trên nguồn gốc dân tộc và đã bị bãi bỏ; giới hạn theo nước hiện nay là mức trần phần trăm như nhau cho mọi nước trong mỗi diện, áp dụng từ năm 1965, nên nước có nhiều người nộp sẽ xếp hàng lâu hơn.
Năm 1965: bước ngoặt tạo ra hệ thống bạn đang nộp hồ sơ
Bỏ hạn ngạch theo nguồn gốc dân tộc. Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch năm 1965 (hay gọi là Luật Hart-Celler) thay hệ cũ bằng hệ ưu tiên theo quan hệ gia đình và tay nghề, áp dụng chung cho mọi nước.
Sinh ra các diện ưu tiên gia đình. Thứ tự ưu tiên cho con độc thân của công dân, vợ chồng và con của thường trú nhân, con đã có gia đình, anh chị em của công dân ra đời từ đây, sau này chỉnh lại thành các diện F1 đến F4 mà người Việt quen thuộc. Thân nhân trực hệ của công dân như vợ chồng, con nhỏ, cha mẹ không bị giới hạn số lượng.
Đặt mức trần theo nước. Mỗi nước bị giới hạn ở một tỷ lệ phần trăm tổng số thị thực ưu tiên mỗi năm. Đây là lý do Visa Bulletin có những cột riêng cho vài nước đông người nộp, và vì sao ngày ưu tiên của diện F4 tiến khác nhau giữa các nước.
Thay đổi gương mặt nhập cư Mỹ. Sau năm 1965, phần lớn người nhập cư mới đến từ châu Á và Mỹ Latinh thay vì châu Âu. Cộng đồng người Hoa, người Philippines, người Ấn, người Hàn lớn lên nhanh, và đây cũng là khung luật mà người Việt sau này đi vào khi bảo lãnh gia đình.
Từ năm 1975: người Việt tị nạn, ODP, con lai và diện HO
Sau tháng 4 năm 1975, khoảng hơn một trăm nghìn người Việt được di tản sang Mỹ, đi qua các trại tiếp nhận như Camp Pendleton ở California, Fort Chaffee ở Arkansas, Eglin ở Florida, Fort Indiantown Gap ở Pennsylvania, rồi được các nhà bảo trợ, hội đoàn đón về khắp nước. Quốc hội thông qua đạo luật hỗ trợ di cư và tị nạn Đông Dương năm 1975 để chi tiền tái định cư. Chính sách lúc đó cố ý rải người tị nạn ra nhiều bang, nhưng về sau nhiều gia đình tự chuyển về California, Texas, tạo nên các cộng đồng lớn ngày nay.
Cuối thập niên 1970, làn sóng thuyền nhân khiến Mỹ và nhiều nước nhận thêm hàng trăm nghìn người qua các trại ở Đông Nam Á. Đạo luật Tị nạn năm 1980 lập khung pháp lý chung cho việc nhận người tị nạn hằng năm, vẫn còn áp dụng. Song song, Chương trình Ra đi có trật tự (ODP) hình thành từ thoả thuận năm 1979 với sự tham gia của Cao uỷ Liên Hợp Quốc về người tị nạn, cho người Việt đi thẳng từ Việt Nam sang theo diện đoàn tụ và các diện đặc biệt.
Năm 1987, Đạo luật Hồi hương con lai cho con lai Mỹ sinh ở Việt Nam và thân nhân đi cùng sang Mỹ, triển khai từ năm 1988. Từ năm 1989, chương trình dành cho cựu tù cải tạo và gia đình, quen gọi là diện HO, được thực hiện trong khuôn khổ ODP. Đến giữa thập niên 1990, các chương trình đặc biệt này khép lại dần, và người Việt sang Mỹ chủ yếu qua bảo lãnh gia đình, du học, việc làm, đầu tư như mọi nước khác.
Từ sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ năm 1995, dòng người Việt sang Mỹ chuyển hẳn sang khung luật chung: bảo lãnh vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em, rồi du học và việc làm. Theo số liệu điều tra dân số Mỹ gần đây, cộng đồng gốc Việt đã vượt hai triệu người, phần lớn thế hệ thứ hai sinh ra ở Mỹ. Điều này giải thích vì sao diện F4 của Việt Nam luôn đông hồ sơ: những người sang từ các làn sóng tị nạn đã nhập tịch và bảo lãnh tiếp anh chị em còn ở Việt Nam, tạo nên hàng chờ dài kéo qua nhiều năm.
Từ năm 1986 đến nay: các luật còn ảnh hưởng trực tiếp tới hồ sơ
Sau năm 1965, Quốc hội Mỹ hiếm khi thông qua cải cách tổng thể; phần lớn thay đổi là các đạo luật sửa một mảng. Dưới đây là những mốc mà người làm hồ sơ hôm nay vẫn gặp hệ quả.
| Năm | Đạo luật hoặc thay đổi | Hệ quả còn thấy hôm nay |
|---|---|---|
| 1986 | Đạo luật Cải cách và Kiểm soát Nhập cư (IRCA) | Buộc chủ thuê kiểm giấy tờ được phép làm việc của mọi nhân viên, tức mẫu I-9 bạn điền khi nhận việc |
| 1990 | Đạo luật Nhập cư năm 1990 | Khung các diện việc làm EB-1 đến EB-5, mức trần thị thực H-1B, chương trình xổ số đa dạng; EB-5 ra đời từ đây |
| 1996 | Luật cải cách nhập cư bất hợp pháp và trách nhiệm người nhập cư (IIRIRA) | Lệnh cấm quay lại 3 năm và 10 năm cho người ở quá hạn; cam kết bảo trợ tài chính I-864 có hiệu lực ràng buộc |
| 2000 | Đạo luật Quốc tịch cho trẻ em | Con dưới 18 tuổi có thẻ xanh, sống cùng cha mẹ là công dân, tự động có quốc tịch Mỹ khi đủ điều kiện |
| 2002 | Đạo luật Bảo vệ tình trạng trẻ em (CSPA) | Cách tính “tuổi CSPA” để giảm tình trạng con quá 21 tuổi trong lúc chờ hồ sơ |
| 2002–2003 | Luật An ninh Nội địa; cơ quan INS giải thể | USCIS ra đời từ năm 2003 lo xét đơn, tách khỏi hai cơ quan thực thi CBP và ICE |
| 2022 | Đạo luật Cải cách và Liêm chính EB-5 | Mức đầu tư mới, dành riêng thị thực cho dự án nông thôn, hạ tầng, vùng thất nghiệp cao; mẫu I-526E |
Danh sách này không đầy đủ và chỉ dùng để định hướng. Quy định chi tiết, mức phí, mẫu đơn hiện hành phải xem trên uscis.gov và travel.state.gov, vì phần lớn thay đổi về thủ tục đến từ quy định của cơ quan hành pháp chứ không phải luật mới của Quốc hội.
Đọc lịch sử để hiểu hồ sơ của chính mình
Thời gian chờ không phải do “lãnh sự làm chậm”. Phần lớn thời gian chờ ở các diện gia đình là do số thị thực mỗi năm bị luật giới hạn từ những năm 1990 trong khi số người nộp tăng. Hiểu điều này giúp bạn lên kế hoạch theo Visa Bulletin thay vì chờ một phép màu thủ tục.
Luật lớn hiếm đổi, quy định nhỏ đổi thường xuyên. Từ năm 1990 tới nay chưa có cải cách tổng thể nào thành luật, nhưng mẫu đơn, lệ phí, cách xét hồ sơ, chính sách phỏng vấn thì thay đổi theo từng thời kỳ. Tin đồn “sắp có luật mới” nên đọc bằng con mắt này.
Các cam kết ký trong hồ sơ có lịch sử nặng ký. Cam kết bảo trợ I-864 bị ràng buộc pháp lý từ năm 1996; người bảo lãnh cần hiểu đây là nghĩa vụ thật chứ không phải thủ tục giấy tờ.
Lịch sử cộng đồng là vốn liếng. Những hội đoàn, chợ, chùa chiền, trường tiếng Việt mà người mới sang dựa vào là thành quả của nhiều thế hệ đi trước từ năm 1975. Hiểu họ đã đi qua những gì giúp người mới sang bớt xa lạ với chính cộng đồng của mình.
Câu hỏi thường gặp
Luật nhập cư nền tảng của Mỹ hiện nay là luật nào?
Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch năm 1952, thường gọi là INA, được sửa đổi nhiều lần, quan trọng nhất là năm 1965, 1986, 1990 và 1996. Khi văn bản chính thức dẫn một điều khoản INA, đó là điều trong bộ luật này sau các lần sửa.
Chính sách nhập cư năm 1924 của Mỹ là gì?
Đó là Đạo luật Nhập cư năm 1924 đặt hạn ngạch theo nguồn gốc quốc gia, ưu tiên người Bắc và Tây Âu và gần như chặn người châu Á. Hệ này bị bãi bỏ bằng luật năm 1965; giới hạn theo nước hiện nay là mức trần phần trăm như nhau cho mọi nước.
Diện F4 anh chị em có từ bao giờ?
Ưu tiên cho anh chị em của công dân Mỹ có trong hệ thống ưu tiên gia đình do luật năm 1965 lập ra, về sau được sắp xếp lại thành các diện F1 đến F4. Diện này thường có thời gian chờ dài nhất vì số thị thực hằng năm có hạn.
ODP và diện HO khác nhau thế nào?
ODP là Chương trình Ra đi có trật tự hình thành từ năm 1979 cho người Việt đi thẳng từ Việt Nam sang các nước nhận, gồm đoàn tụ và các diện đặc biệt. Diện HO dành cho cựu tù cải tạo và gia đình, bắt đầu năm 1989 và thực hiện trong khuôn khổ ODP.
EB-5 ra đời khi nào?
Diện EB-5 được lập bằng Đạo luật Nhập cư năm 1990, chương trình trung tâm vùng thêm vào từ năm 1992, và luật cải cách năm 2022 đặt lại mức đầu tư cùng các quy định liêm chính. Mức đầu tư hiện hành phải kiểm trên uscis.gov.
Vì sao gọi là USCIS mà không phải INS?
Cơ quan Di trú và Nhập tịch INS giải thể sau Luật An ninh Nội địa năm 2002. Từ năm 2003, việc xét đơn chuyển sang USCIS, còn kiểm soát biên giới và thực thi giao cho CBP và ICE, đều thuộc Bộ An ninh Nội địa.