Hỏi "làm định cư Úc diện tay nghề hết bao nhiêu" thì không có một con số chung, vì chi phí của diện này không đóng một lần mà rải theo từng chặng, có chặng kéo dài cả năm trước khi bạn được mời. Một kỹ sư độc thân thi tiếng Anh một lần là đạt, thẩm định suôn sẻ, nộp 189 từ Việt Nam sẽ có tổng chi khác hẳn một gia đình bốn người, người chồng phải thi lại tiếng Anh ba lần, nộp 190 và có con nhỏ phải khám bổ sung.
Bài này không đưa giá dịch vụ và không đưa con số lệ phí cố định, vì lệ phí visa Úc được Bộ Nội vụ điều chỉnh định kỳ, thường vào đầu năm tài chính 1/7. Thay vào đó, bài chia chi phí thành từng cấu phần, chỉ ra khoản nào trả một lần, khoản nào nhân theo đầu người, khoản nào dễ lặp lại, để bạn tự lập bảng ngân sách và tra con số hiện hành trên immi.homeaffairs.gov.au cùng trang của cơ quan thẩm định nghề.
Chi phí đi theo chặng, không phải một cục
Một hồ sơ tay nghề tính điểm (189, 190, 491) đi qua bốn chặng lớn: chuẩn bị điều kiện (tiếng Anh, thẩm định tay nghề, có khi thêm NAATI CCL), chờ mời (nộp EOI, xin đề cử bang nếu đi 190 hoặc 491), nộp visa sau khi được mời, và chặng sau visa (khám sức khoẻ, lý lịch tư pháp, chuyến bay kích hoạt). Mỗi chặng có khoản tiền riêng, và khoảng cách giữa các chặng có thể tính bằng tháng.
Điều này có hai hệ quả thực tế. Thứ nhất, bạn không cần có đủ toàn bộ tiền ngay từ đầu; phần lớn nhất là lệ phí visa, chỉ phải trả khi đã có thư mời. Thứ hai, chính vì kéo dài, chi phí dễ trôi: thi thêm một lần tiếng Anh, gia hạn hộ chiếu, dịch lại giấy tờ hết hạn, thẩm định lại vì kết quả cũ quá hạn. Những khoản lẻ này cộng lại có khi bằng một khoản lớn.
Nguyên tắc lập ngân sách nên là: tách khoản cố định một lần (thẩm định, lệ phí visa), khoản nhân theo đầu người (lệ phí người đi kèm, khám sức khoẻ, lý lịch tư pháp, dịch thuật hộ tịch), và khoản có thể lặp (thi tiếng Anh, thẩm định lại, đề cử bang nộp nhiều lần). Khoản thứ ba là nơi bạn nên để dự phòng rộng tay nhất.
Chặng chuẩn bị: tiếng Anh, thẩm định tay nghề và điểm cộng
Thi tiếng Anh. Lệ phí mỗi lần thi IELTS, PTE hay các bài thi khác được Bộ Nội vụ chấp nhận do đơn vị tổ chức thi ở Việt Nam công bố. Điều đáng tính không phải giá một lần mà số lần: người nhắm mức Superior để có 20 điểm thường thi nhiều lần, cộng thêm khoá luyện. Nếu bạn đang ở mức Proficient và cần thêm điểm, hãy so chi phí thi lại với các lối cộng điểm khác trước khi lao vào vòng thi thứ năm.
Thẩm định tay nghề. Mỗi nghề có cơ quan thẩm định riêng (ACS cho công nghệ thông tin, Engineers Australia cho kỹ sư, CPA Australia, CA ANZ hoặc IPA cho kế toán, VETASSESS cho nhiều nghề chuyên môn, TRA cho thợ…). Phí do từng cơ quan đặt, có cơ quan tính thêm phí thẩm định kinh nghiệm hoặc phí xét nhanh. Bị kết quả không thuận lợi thì có phí xét lại hoặc khiếu nại, và nếu phải nộp lại từ đầu là trả lại gần như toàn bộ.
NAATI CCL và Professional Year. Đây là hai lối cộng điểm có giá: NAATI CCL tiếng Việt có lệ phí thi, Professional Year là khoá học gần một năm với học phí đáng kể. Chỉ nên chi khi bạn đã tính được số điểm còn thiếu và chắc lối đó cho đủ điểm, không chi theo phong trào.
Dịch thuật và giấy tờ phục vụ thẩm định. Bằng cấp, bảng điểm, xác nhận công việc, sổ bảo hiểm xã hội thường cần bản dịch đạt chuẩn. Dịch một lần cho đủ bộ, đặt tên và lưu bản điện tử cẩn thận, để chặng nộp visa không phải dịch lại những thứ đã có.
Chặng nộp visa: lệ phí chính, người đi kèm và đợt thứ hai
Lệ phí visa (Visa Application Charge) là khoản lớn nhất và được trả khi nộp hồ sơ trên ImmiAccount, sau khi có thư mời. Cấu trúc lệ phí gồm phần cho đương đơn chính, phần cho mỗi người đi kèm từ 18 tuổi trở lên và phần thấp hơn cho mỗi người đi kèm dưới 18 tuổi. Vì vậy cùng một visa 190, gia đình bốn người trả gấp nhiều lần người độc thân. Thanh toán bằng thẻ còn có phụ phí xử lý thẻ tuỳ loại thẻ.
Điểm nhiều người bỏ sót là đợt lệ phí thứ hai. Người đi kèm từ 18 tuổi trở lên mà không chứng minh được tiếng Anh ở mức functional thì phải trả thêm một khoản lệ phí đợt hai, thường trả trước khi visa được cấp. Khoản này không nhỏ, và có thể tránh bằng một bài thi tiếng Anh đạt mức functional hoặc bằng chứng học tập bằng tiếng Anh theo quy định. Với người vợ hoặc chồng chưa từng thi tiếng Anh, so chi phí một lần thi với khoản đợt hai thường cho đáp án rõ ràng.
Với diện 190 và 491, một số bang thu phí nộp đơn xin đề cử, có bang không thu. Điều kiện và phí đề cử của từng bang thay đổi theo năm chương trình, nên tra trang di trú của chính bang đó tại thời điểm nộp. Nếu bạn nộp hồ sơ đề cử cho nhiều bang cùng lúc qua EOI, chỉ khi bang yêu cầu nộp đơn riêng mới phát sinh phí.
Bảng các khoản chi theo chặng
Bảng dưới là khung để bạn tự điền số. Cột "Cách tính" cho biết khoản đó nhân lên thế nào; con số cụ thể tra ở cơ quan ghi trong cột cuối, tại thời điểm bạn chuẩn bị chi.
| Khoản chi | Chặng | Cách tính | Tra ở đâu |
|---|---|---|---|
| Thi tiếng Anh | Chuẩn bị | Mỗi lần thi, có thể lặp | Đơn vị tổ chức thi |
| Thẩm định tay nghề | Chuẩn bị | Một lần, cộng phí xét lại nếu cần | Cơ quan thẩm định của nghề |
| NAATI CCL, Professional Year | Chuẩn bị | Tuỳ chọn, chỉ khi thiếu điểm | NAATI, đơn vị tổ chức khoá học |
| Phí đề cử bang | Chờ mời | Theo bang, có bang miễn | Trang di trú của bang |
| Lệ phí visa đợt một | Nộp visa | Đương đơn chính + từng người đi kèm | immi.homeaffairs.gov.au |
| Lệ phí visa đợt hai | Trước khi cấp visa | Người đi kèm từ 18 tuổi thiếu tiếng Anh functional | immi.homeaffairs.gov.au |
| Khám sức khoẻ | Sau khi nộp | Từng người, trẻ nhỏ có mục khám khác | Phòng khám chỉ định của Bộ Nội vụ |
| Lý lịch tư pháp | Sau khi nộp | Từng người từ 16 tuổi, từng nước đã sống | Cơ quan cấp của từng nước |
| Dịch thuật, chứng thực | Rải rác | Theo số trang | Đơn vị dịch đạt chuẩn |
Phần bạn hay thấy thiếu trong bảng là phí dịch vụ đại lý di trú nếu thuê. Khoản này do hai bên thoả thuận, nên đọc kỹ hợp đồng: phí trọn gói gồm những chặng nào, có tính thêm khi phải nộp đề cử bang lần hai hay trả lời yêu cầu bổ sung không.
Những khoản phát sinh hay bị quên
Bảng ngân sách đẹp trên giấy thường vỡ ở những khoản nhỏ, lặp lại hoặc đến muộn. Các khoản dưới đây xuất hiện trong khá nhiều hồ sơ người Việt:
- Hộ chiếu hết hạn giữa chừng. Làm hộ chiếu mới sau khi đã nộp thì phải báo thay đổi cho Bộ Nội vụ, có khi phải cập nhật lại các giấy tờ liên quan.
- Kết quả tiếng Anh hoặc thẩm định quá hạn. Mỗi loại có thời hạn dùng được; chờ mời quá lâu có thể buộc bạn thi lại hoặc thẩm định lại trước khi được mời.
- Khám sức khoẻ bổ sung. Một chỉ số bất thường có thể dẫn tới yêu cầu chụp thêm, xét nghiệm thêm hoặc khám chuyên khoa, mỗi lần đều tốn tiền và thời gian.
- Lý lịch tư pháp nước thứ ba. Ai từng sống đủ lâu ở Nhật, Hàn, Đài Loan hay nước khác thì phải xin phiếu của nước đó, có khi qua đường bưu điện quốc tế và phải dịch.
- Dịch lại giấy hộ tịch. Giấy tờ khai sinh, kết hôn có thông tin lệch giữa các bản phải đính chính ở Việt Nam rồi dịch lại.
- Chuyến bay kích hoạt. Visa thường có hạn nhập cảnh đầu tiên; nếu cả nhà chưa sẵn sàng chuyển hẳn, một chuyến đi ngắn để kích hoạt vẫn là chi phí vé cho mọi người.
Một cách thực tế là cộng thêm một khoản dự phòng tính theo phần trăm tổng dự kiến, và giữ khoản đó riêng, không dùng cho chi tiêu khác cho tới khi visa được cấp.
Ví dụ giả định: hai hồ sơ, hai cách tiêu tiền
Ví dụ giả định thứ nhất: anh Minh, 29 tuổi, kỹ sư phần mềm độc thân ở Hà Nội. Anh thi PTE hai lần thì đạt mức cao, thẩm định ACS một lần, nộp EOI 189 và được mời sau vài vòng. Chi phí của anh gồm hai lần thi, một lần thẩm định, một phần lệ phí visa cho một người, một lần khám, một phiếu lý lịch tư pháp và ít bản dịch. Đây là kiểu hồ sơ "gọn", chi phí sát với dự tính ban đầu.
Ví dụ giả định thứ hai: chị Lan, 37 tuổi, kế toán ở TP.HCM, chồng và hai con đi kèm. Chị thi tiếng Anh bốn lần mới lên mức cần thiết, thẩm định kế toán bị yêu cầu học bổ sung một môn, nộp đề cử 190 hai bang (một bang thu phí), được mời sau hơn một năm. Lệ phí visa nhân theo bốn người; chồng chị chưa có chứng chỉ tiếng Anh nên đối diện khoản đợt hai, cuối cùng chọn đi thi một bài functional cho rẻ hơn. Con nhỏ bị yêu cầu khám bổ sung một lần.
Cùng là "định cư Úc diện tay nghề", tổng chi của chị Lan có thể gấp vài lần anh Minh, chủ yếu do số người, số lần thi lại và thời gian chờ. Bài học từ hai ví dụ là: khoản bạn kiểm soát được nhiều nhất nằm ở chặng chuẩn bị. Đầu tư đúng chỗ cho tiếng Anh từ đầu thường rẻ hơn thi dàn trải nhiều lần.
Sai lầm làm đội chi phí
Nộp thẩm định khi giấy tờ kinh nghiệm chưa đủ. Thư xác nhận thiếu mô tả công việc, lương, giờ làm khiến cơ quan thẩm định không công nhận phần kinh nghiệm, bạn mất điểm và thường phải nộp lại. Chuẩn bị đủ một lần rẻ hơn sửa hai lần.
Khai điểm trong EOI cao hơn thực tế. Được mời với số điểm không chứng minh được thì hồ sơ visa có nguy cơ bị từ chối, và lệ phí visa đã nộp không được hoàn chỉ vì bạn khai nhầm. Đây là cách mất tiền đắt nhất trong cả quy trình.
Coi lệ phí visa là khoản cuối cùng. Sau lệ phí visa vẫn còn khám, lý lịch, đợt hai, vé máy bay và chi phí ổn định những tháng đầu. Hết tiền ở giai đoạn này là lúc gia đình dễ đưa ra quyết định vội.
Thuê dịch vụ theo giá rẻ mà không đọc phạm vi. Gói rẻ thường chỉ gồm nộp visa, còn thẩm định, đề cử bang, trả lời yêu cầu bổ sung tính riêng. Ở Úc, người tư vấn di trú có thu phí phải đăng ký và có số MARN; kiểm số đó trước khi trả tiền.
Không theo dõi hạn của từng giấy tờ. Mỗi lần một giấy hết hạn là một lần chi thêm. Một bảng theo dõi đơn giản ghi ngày cấp, ngày hết hạn của kết quả tiếng Anh, thẩm định, hộ chiếu, lý lịch tư pháp giúp bạn tránh phần lớn khoản phát sinh này.
Câu hỏi thường gặp
Có phải chứng minh tài chính khi nộp visa tay nghề 189, 190 không?
Các visa tay nghề tính điểm hiện không đặt yêu cầu chứng minh một số dư tối thiểu như một số diện doanh nhân, nhưng bạn vẫn cần đủ tiền trả lệ phí và tự lo những tháng đầu ở Úc. Điều kiện có thể đổi, nên kiểm lại trên immi.homeaffairs.gov.au trước khi nộp.
Lệ phí visa Úc có được hoàn nếu hồ sơ bị từ chối không?
Nhìn chung lệ phí visa là phí xét hồ sơ nên không được hoàn khi hồ sơ bị từ chối hay bạn tự rút. Chỉ có một số trường hợp hẹp được hoàn theo quy định; muốn biết chính xác, đọc phần hoàn phí trên trang Bộ Nội vụ Úc.
Khi nào phải trả lệ phí visa đợt hai?
Đợt hai áp dụng cho người đi kèm từ 18 tuổi trở lên không chứng minh được tiếng Anh ở mức functional. Bộ Nội vụ sẽ yêu cầu trả trước khi cấp visa. Bạn có thể tránh khoản này nếu người đi kèm có kết quả thi hoặc bằng chứng học tập bằng tiếng Anh đúng quy định.
Có nên tiết kiệm bằng cách tự nộp hồ sơ, không thuê đại lý?
Hồ sơ tay nghề đơn giản, người nộp đọc hiểu tiếng Anh tốt thì tự làm được, nhiều người đã làm. Hồ sơ có điểm phức tạp như kinh nghiệm khó chứng minh, từng bị từ chối hay có vấn đề sức khoẻ thì một đại lý có số MARN giúp giảm rủi ro mất lệ phí. Đây là đánh đổi giữa phí dịch vụ và rủi ro.
Chi phí cho trẻ em đi kèm có thấp hơn người lớn không?
Có. Lệ phí visa cho người đi kèm dưới 18 tuổi thấp hơn người lớn, trẻ em không cần lý lịch tư pháp nếu dưới 16 tuổi và mục khám sức khoẻ tuỳ độ tuổi. Tuy vậy vẫn có lệ phí, khám và dịch giấy khai sinh, nên vẫn phải cộng vào ngân sách.
Lệ phí visa Úc thay đổi vào lúc nào?
Bộ Nội vụ Úc thường điều chỉnh lệ phí visa vào đầu năm tài chính ngày 1/7, có năm thay đổi cả cấu trúc lệ phí của một số diện. Nếu bạn sắp được mời vào khoảng tháng 6, nên kiểm bảng lệ phí mới để không bị hụt ngân sách.