Mỹ và Úc chọn người theo hai logic gần như ngược nhau. Phần lớn người Việt sang Mỹ nhờ có người thân là công dân hoặc thường trú nhân bảo lãnh, có chủ lao động bảo lãnh, hoặc đầu tư theo diện EB-5, và các diện này nhìn chung không đặt giới hạn tuổi. Úc thì chủ yếu chọn người lao động có tay nghề qua thang điểm, đặt giới hạn tuổi khi được mời nộp hồ sơ, đòi thẩm định nghề và tiếng Anh, và đã đóng nhận hồ sơ mới diện nhà đầu tư 188 từ năm 2024.
Vì vậy câu hỏi đầu tiên không phải "nước nào tốt hơn" mà là "gia đình mình đang cầm lá bài nào". Có người thân gần ở Mỹ hoặc có vốn và nguồn tiền rõ ràng thì Mỹ thường là đường thực tế. Còn trẻ, có nghề nằm trong danh sách Úc cần, tiếng Anh tốt thì Úc cho phép tự đi mà không chờ ai. Bài dưới so hai nước theo từng tiêu chí, kèm các tình huống gia đình điển hình để bạn tự đặt mình vào.
Bảng so sánh các đường vào chính
Bảng chỉ gồm những diện người Việt dùng nhiều. Điều kiện, lệ phí và mức điểm đổi theo năm, cần kiểm lại trên uscis.gov, travel.state.gov và immi.homeaffairs.gov.au trước khi quyết định.
| Nhóm đường | Mỹ | Úc |
|---|---|---|
| Gia đình | Công dân bảo lãnh vợ chồng, con, cha mẹ, anh chị em; thường trú nhân bảo lãnh vợ chồng và con độc thân. Diện người thân trực hệ của công dân không bị hạn ngạch | Công dân, thường trú nhân bảo lãnh vợ chồng hoặc bạn đời, con phụ thuộc; cha mẹ có diện riêng nhưng hàng chờ rất dài; gần như không có đường cho anh chị em |
| Tay nghề | Cần chủ lao động bảo lãnh, thường kèm chứng nhận lao động; ngoại lệ là EB-1A, EB-2 NIW tự nộp cho người có thành tích | Tự nộp theo điểm (189), được bang đề cử (190), vùng regional (491 rồi lên 191), hoặc chủ bảo lãnh (Skills in Demand, 186, 494) |
| Đầu tư | EB-5: 800.000 USD vùng TEA hoặc 1.050.000 USD ngoài TEA theo luật RIA 2022, thẻ xanh có điều kiện 2 năm rồi nộp I-829 | Diện 188 đã đóng nhận hồ sơ mới năm 2024; người đang giữ 188 vẫn đi tiếp lên 888 theo điều kiện cũ; diện National Innovation dành cho người có thành tích đặc biệt |
| Giới hạn tuổi | Diện gia đình và EB-5 không đặt giới hạn tuổi cho đương đơn chính | Diện tay nghề tính điểm đòi dưới 45 tuổi khi được mời; điểm tuổi cao nhất ở khoảng 25–32 |
| Nơi xét cuối | Phỏng vấn visa định cư tại Lãnh sự quán Mỹ TP.HCM | Phần lớn xét giấy tờ trực tuyến qua ImmiAccount, ít khi phỏng vấn |
Dòng giới hạn tuổi là chỗ loại nhanh nhất. Một người 48 tuổi không có người thân ở Úc gần như không còn đường tay nghề tính điểm, trong khi ở Mỹ người ấy vẫn có thể là đương đơn EB-5 hay được con là công dân bảo lãnh.
Thời gian chờ và mức độ chắc chắn
Ở Mỹ, biến số lớn nhất là hạn ngạch. Vợ chồng, con dưới 21 tuổi chưa kết hôn và cha mẹ của công dân Mỹ chỉ chờ thời gian xét hồ sơ. Các diện khác xếp hàng theo ngày ưu tiên trên bảng Visa Bulletin công bố hằng tháng tại travel.state.gov, và diện anh chị em F4 của người Việt từ lâu thuộc nhóm chờ dài nhất, tính bằng hơn chục năm. EB-5 thì phụ thuộc thời gian xét đơn I-526E của USCIS và có hay không có hàng chờ cho người sinh tại Việt Nam ở diện đầu tư theo từng thời điểm.
Ở Úc, câu hỏi là có được mời hay không. Hồ sơ tay nghề nộp thư bày tỏ nguyện vọng (EOI) lên SkillSelect, điểm và nghề quyết định có được mời; số lượt mời mỗi nghề phụ thuộc chỉ tiêu di trú hằng năm và danh sách nghề, đổi theo năm tài khoá. Đã được mời và nộp đủ giấy tờ thì thời gian xét tương đối dễ đoán. Nhưng nhiều người treo EOI một hai năm không được mời rồi qua mốc tuổi, mất điểm.
Nói gọn: hồ sơ Mỹ diện gia đình thường chắc nhưng chậm; hồ sơ Úc diện tay nghề nhanh khi được mời nhưng không chắc được mời. Gia đình nào không chịu nổi sự bấp bênh thì nên tính phương án dự phòng ngay từ đầu, ví dụ vừa chuẩn bị đường Úc vừa giữ một hồ sơ bảo lãnh Mỹ đang chạy, miễn là khai trung thực ở cả hai nơi.
Sau khi có thẻ: giữ thẻ, quốc tịch, thuế
Khâu xin thẻ chỉ kéo dài vài năm, còn nghĩa vụ sau khi có thẻ kéo dài cả đời. Đây là phần nhiều gia đình so sánh sơ sài nhất.
| Tiêu chí | Mỹ | Úc |
|---|---|---|
| Giữ thường trú | Phải coi Mỹ là nơi sống chính; vắng mặt lâu dễ bị coi là từ bỏ, đi trên một năm cần xin giấy phép tái nhập cảnh trước khi đi | Thẻ thường trú cho ở vô thời hạn, nhưng quyền đi lại kèm theo thường 5 năm; hết hạn mà ở ngoài Úc phải xin Resident Return Visa và chứng minh gắn bó |
| Nhập quốc tịch | Thường sau 5 năm thường trú, 3 năm nếu kết hôn và sống chung với công dân Mỹ; thi tiếng Anh và hiểu biết công dân | Cư trú hợp pháp 4 năm, trong đó ít nhất 1 năm là thường trú nhân, có giới hạn số ngày vắng mặt; thi quốc tịch bằng tiếng Anh |
| Thuế | Đánh thuế theo quốc tịch: công dân và người giữ thẻ xanh khai thu nhập toàn cầu dù sống ở đâu | Đánh thuế theo cư trú thuế: rời Úc và không còn là cư dân thuế thì chỉ khai phần thu nhập phát sinh ở Úc |
| Hai quốc tịch | Không cấm | Không cấm |
Dòng thuế đáng đọc hai lần nếu bạn còn kinh doanh ở Việt Nam. Người có quốc tịch Mỹ về Việt Nam sống vẫn khai thuế Mỹ hằng năm và khai tài khoản ở nước ngoài khi vượt ngưỡng; người có quốc tịch Úc về Việt Nam sống lâu dài, cắt quan hệ cư trú thì nghĩa vụ ở Úc nhẹ hơn nhiều. Chi tiết từng trường hợp cần hỏi người làm thuế được cấp phép, không suy từ bảng này.
Đời sống hằng ngày: y tế, học hành, việc làm, khoảng cách
Y tế. Thường trú nhân Úc được vào Medicare, hệ thống y tế công chi trả phần lớn khám bệnh và điều trị tại bệnh viện công. Ở Mỹ, bảo hiểm y tế chủ yếu đi qua chủ lao động hoặc tự mua, chi phí và mức đồng chi trả khác nhau rất lớn giữa các gói; người mới sang chưa có việc phải tính khoản này từ tháng đầu. Cha mẹ lớn tuổi sang Mỹ thường không đủ điều kiện Medicare ngay, đây là khoản nhiều gia đình bị bất ngờ.
Học hành của con. Cả hai nước đều có trường công miễn học phí cho con của thường trú nhân ở bậc phổ thông. Khác biệt nằm ở đại học: ở Úc, công dân được vay học phí qua chương trình của chính phủ, thường trú nhân thì điều kiện hẹp hơn; ở Mỹ, học phí đại học cao, sinh viên dựa nhiều vào học bổng, trợ giúp tài chính và mức học phí tiểu bang cho cư dân.
Việc làm. Thị trường lao động Mỹ rộng, nhiều ngành, mức lương ở các ngành chuyên môn cao thường hơn Úc, nhưng mạng lưới an sinh mỏng hơn. Úc có lương tối thiểu cao, quyền lợi người lao động được luật bảo vệ chặt, nhưng thị trường nhỏ, nhiều nghề cần đăng ký hành nghề lại tại Úc.
Khoảng cách về Việt Nam. Bay từ TP.HCM sang Sydney hay Melbourne mất khoảng tám đến chín tiếng, chênh giờ ít, gọi điện cho ông bà ở nhà dễ sắp xếp. Sang Mỹ thường mười mấy tiếng trở lên, phần lớn phải nối chuyến, chênh lệch múi giờ lớn. Với gia đình còn cha mẹ già ở Việt Nam, điều này ảnh hưởng thật đến tần suất về thăm.
Cộng đồng người Việt. Cả hai nước đều có cộng đồng người Việt lâu đời: ở Mỹ đông ở California, Texas, Washington; ở Úc tập trung ở Sydney, Melbourne, Brisbane. Có cộng đồng giúp tuần đầu dễ thở, nhưng chỉ sống trong cộng đồng lại làm chậm việc học tiếng và tìm việc đúng chuyên môn.
Bốn tình huống gia đình điển hình
Những tình huống dưới đây là ví dụ giả định để thấy cách hai nước loại nhau, không phải lời khuyên cho hồ sơ cụ thể.
- Vợ chồng 33 tuổi, chồng là kỹ sư phần mềm, IELTS tốt, không có người thân ở nước ngoài. Úc mở đường tự nộp nếu nghề được thẩm định và điểm đủ; Mỹ gần như chỉ còn đường chờ chủ lao động bảo lãnh. Úc đáng thử trước.
- Chủ doanh nghiệp 52 tuổi, có vốn và lịch sử kinh doanh rõ ràng, muốn cho con học đại học ở nước ngoài. Úc gần như đóng với hồ sơ này sau khi diện 188 dừng nhận mới; EB-5 của Mỹ không giới hạn tuổi, con dưới 21 tuổi đi kèm. Câu hỏi khi đó chuyển sang nguồn tiền và rủi ro dự án EB-5.
- Gia đình có con gái đã là công dân Mỹ, cha mẹ 60 tuổi ở Việt Nam. Cha mẹ của công dân Mỹ thuộc diện không hạn ngạch, đường Mỹ ngắn và chắc hơn hẳn diện cha mẹ của Úc.
- Thợ điện có chứng chỉ nghề, 29 tuổi, tiếng Anh trung bình. Úc có đường thẩm định nghề thợ và các diện vùng regional; Mỹ có EB-3 nhưng cần chủ lao động bảo lãnh và quá trình dài. Nên đầu tư vào tiếng Anh trước, vì điểm ngôn ngữ ở Úc quyết định nhiều.
Điểm chung của bốn tình huống: lá bài gia đình đang cầm quyết định nước nào khả thi, còn sở thích về khí hậu hay thành phố chỉ nên xếp sau.
Những hiểu lầm hay gặp khi so Mỹ với Úc
"Úc dễ hơn Mỹ." Úc chỉ dễ hơn với người trẻ, có nghề trong danh sách và tiếng Anh tốt. Với người trên 45 tuổi không có người thân, Úc khó hơn Mỹ rất nhiều. Ngược lại, với người không có người thân và không đủ vốn EB-5, Mỹ gần như không có cửa tự nộp.
"Có visa du học Úc là gần có thường trú." Từ năm 2024 Úc siết visa du học và visa sau tốt nghiệp. Du học là cách tích luỹ bằng cấp và kinh nghiệm để có điểm, không phải lối tắt; nhiều người học xong vẫn không được mời vì nghề không còn ưu tiên.
"Có thẻ xanh rồi muốn về Việt Nam bao lâu cũng được." Thẻ xanh Mỹ đòi coi Mỹ là nơi sống chính; vắng mặt dài, khai thuế như người không cư trú, hoặc không có giấy phép tái nhập cảnh có thể bị coi là từ bỏ thường trú. Ở Úc, thẻ không hết hạn nhưng quyền đi lại thì có hạn, ở ngoài quá lâu sẽ phải chứng minh lại mối gắn bó.
Ba hiểu lầm này có chung một gốc: lấy trải nghiệm của một người quen để suy cho cả nhà mình. Hồ sơ của mỗi gia đình nằm ở một diện khác, nên cách duy nhất chắc chắn là đối chiếu điều kiện trên trang chính thức của cơ quan di trú hai nước.
Cách tự quyết trong một buổi tối
Trước khi gặp bất kỳ đơn vị tư vấn nào, cả nhà có thể ngồi lại và trả lời theo thứ tự sau.
- Liệt kê người thân là công dân hoặc thường trú nhân ở Mỹ và ở Úc, ghi rõ quan hệ: vợ chồng, con, cha mẹ, anh chị em. Quan hệ quyết định diện bảo lãnh nào còn mở.
- Ghi tuổi của người có thể làm đương đơn chính tại thời điểm dự kiến nộp, không phải hôm nay. Ai sắp qua mốc 45 thì đường tay nghề Úc phải tính gấp hoặc bỏ.
- Xác định nghề và bằng cấp có thể được tổ chức thẩm định nghề của Úc công nhận hay không; tra danh sách nghề hiện hành trên immi.homeaffairs.gov.au.
- Tính số vốn có nguồn gốc chứng minh được bằng giấy tờ; nếu không tới mức EB-5 cộng chi phí đi kèm, gạch đường đầu tư Mỹ.
- Hỏi từng người lớn trong nhà: chấp nhận chờ chậm mà chắc, hay chấp nhận nhanh nhưng có thể trượt. Câu trả lời này thường quyết định nốt phần còn lại.
Sau năm bước, phần lớn gia đình chỉ còn một nước khả thi, hoặc thấy rõ cần chuẩn bị gì thêm để mở nước thứ hai. Đó mới là lúc nên đi hỏi chuyên gia về chi tiết hồ sơ.
Câu hỏi thường gặp
Có thể vừa nộp hồ sơ Úc vừa giữ hồ sơ bảo lãnh Mỹ đang chờ không?
Được, hai nước không cấm người nộp có hồ sơ đang chạy ở nước khác. Điều bắt buộc là khai trung thực ở cả hai nơi: lịch sử nộp đơn, việc từng bị từ chối, tình trạng hôn nhân, lý lịch công việc phải khớp nhau. Khi có thẻ của một nước, bạn chọn đi nước đó và quyết định có tiếp tục hồ sơ còn lại hay không.
Người có quốc tịch Úc có được ở và làm việc tại Mỹ không?
Không tự động. Công dân Úc được miễn thị thực du lịch ngắn ngày vào Mỹ theo chương trình miễn thị thực và có loại visa làm việc E-3 dành riêng cho người Úc có việc làm chuyên môn tại Mỹ. Tuy vậy E-3 là visa tạm thời, muốn định cư Mỹ vẫn phải qua một diện thẻ xanh như mọi người khác.
Cha mẹ già nên được bảo lãnh sang Mỹ hay Úc?
Nếu con đã là công dân Mỹ, cha mẹ thuộc diện không hạn ngạch nên đường Mỹ thường nhanh hơn. Diện cha mẹ của Úc có hàng chờ rất dài, loại có đóng phí cao thì nhanh hơn nhưng vẫn tính bằng nhiều năm. Ở cả hai nước cần tính bảo hiểm y tế cho cha mẹ trong những năm đầu, vì đó là khoản lớn nhất.
Thu nhập ở Úc có đủ sống như ở Mỹ không?
Không so được bằng một con số chung. Lương tối thiểu ở Úc cao, mạng lưới an sinh dày hơn; ở Mỹ, ngành chuyên môn cao trả lương cao hơn nhưng tự gánh nhiều chi phí y tế và học phí đại học. Cách hợp lý là lấy nghề cụ thể của bạn, tra mức lương và giá thuê nhà tại thành phố dự định ở, rồi tự tính.
Đi Úc diện tay nghề có cần có việc làm trước không?
Diện 189 tự nộp không cần có việc làm hay chủ bảo lãnh trước, chỉ cần được mời, đủ điểm, nghề được thẩm định và tiếng Anh đạt yêu cầu. Diện được bang đề cử có thể đòi thêm điều kiện riêng của từng bang. Các diện chủ bảo lãnh thì bắt buộc phải có chủ lao động tại Úc đứng ra.
Con trên 21 tuổi có đi theo được không?
Ở Mỹ, con từ 21 tuổi trở lên không còn là con đi kèm trong đa số diện, trừ trường hợp được bảo vệ tuổi theo luật CSPA. Ở Úc, con lớn có thể được tính là người phụ thuộc nếu thoả điều kiện phụ thuộc theo quy định của từng visa. Cần kiểm định nghĩa người phụ thuộc trên trang chính thức trước khi nộp.