DinhCuToanCau.comĐịnh Cư Toàn Cầu
Định cư Úc

Bảo lãnh vợ chồng sang Úc: visa 309/100, 820/801, bằng chứng và hai giai đoạn xét

Bảo lãnh vợ chồng sang Úc đi qua visa 309/100 nộp từ Việt Nam hoặc 820/801 nộp tại Úc. Ai được bảo lãnh, bốn nhóm bằng chứng, hai giai đoạn và lúc quan hệ đổ vỡ.

Low angle view of a young Vietnamese couple walking hand in hand along Bondi coastal path at dusk, seen from behind, ocean spray and pastel pink sky

Công dân Úc, thường trú nhân Úc hoặc công dân New Zealand đủ điều kiện có thể bảo lãnh vợ, chồng hoặc người chung sống như vợ chồng (de facto) sang Úc theo diện partner. Có hai cặp visa: 309 rồi 100 nếu người được bảo lãnh nộp hồ sơ khi đang ở ngoài Úc (thường là ở Việt Nam), và 820 rồi 801 nếu nộp khi đang ở trong Úc. Cả hai đều là một hồ sơ kết hợp, đóng phí một lần, xét theo hai giai đoạn: tạm trú trước, thường trú sau.

Điểm quyết định của diện này không phải giấy đăng ký kết hôn mà là việc chứng minh quan hệ có thật và đang tiếp diễn. Bài này đi qua điều kiện của người bảo lãnh, cách chọn nộp trong hay ngoài Úc, bốn nhóm bằng chứng mà Bộ Nội vụ xét, mốc hai năm của giai đoạn hai, và điều gì xảy ra khi quan hệ đổ vỡ giữa chừng. Lệ phí diện partner thuộc nhóm cao nhất trong các visa Úc và thay đổi mỗi năm tài khoá; thời gian xét cũng dao động, nên kiểm cả hai trên immi.homeaffairs.gov.au.

Ai được bảo lãnh và ai đứng ra bảo lãnh

Vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp lệ. Hôn nhân phải được công nhận theo luật Úc. Kết hôn đăng ký ở Việt Nam theo đúng thủ tục hộ tịch có yếu tố nước ngoài thường được công nhận. Hai người phải đủ tuổi kết hôn, không có hôn nhân khác còn hiệu lực.

Người chung sống như vợ chồng (de facto). Không cần kết hôn, nhưng thường phải đã chung sống ít nhất mười hai tháng ngay trước khi nộp hồ sơ. Mốc này được miễn nếu quan hệ đã đăng ký ở cơ quan đăng ký quan hệ của một bang Úc, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt thuyết phục. Áp dụng cho cả cặp cùng giới.

Người đã đính hôn. Nếu chưa cưới và muốn sang Úc làm đám cưới, có visa 300 (Prospective Marriage): cưới trong thời hạn visa rồi nộp chuyển sang diện 820/801 tại Úc. Hai người phải đã gặp nhau trực tiếp khi đều đã trưởng thành.

Người bảo lãnh. Là công dân Úc, thường trú nhân hoặc công dân New Zealand đủ điều kiện, từ 18 tuổi. Có giới hạn: một người thường không được bảo lãnh quá hai người phối ngẫu trong đời, và không được bảo lãnh nếu trong năm năm gần đây đã bảo lãnh một người phối ngẫu khác hoặc chính mình được bảo lãnh sang theo diện này, trừ trường hợp đặc biệt. Người bảo lãnh có một số loại tiền án nghiêm trọng, nhất là liên quan đến trẻ em, có thể bị hạn chế.

Nộp từ Việt Nam hay nộp tại Úc: hai đường khác nhau ở đâu

Lựa chọn này phụ thuộc vào việc người được bảo lãnh đang ở đâu và đang giữ visa gì lúc nộp. Bảng dưới so sánh theo khung chung.

Tiêu chí309 → 100 (ngoài Úc)820 → 801 (trong Úc)
Người được bảo lãnh ở đâu khi nộpNgoài ÚcTrong Úc, đang giữ visa hợp lệ (có ngoại lệ hẹp)
Ở đâu khi được cấp visa tạm trúNgoài ÚcTrong Úc
Trong lúc chờỞ Việt Nam, có thể xin visa du lịch để thăm nhưng không bảo đảmỞ Úc bằng bridging visa, thường được đi làm khi visa cũ hết hạn
Rào cản hay gặpThời gian xa nhau, chi phí đi lạiVisa đang giữ có điều kiện "No Further Stay" (8503) thì không nộp được trong Úc nếu chưa được miễn điều kiện đó
Phù hợp vớiCặp đã cưới ở Việt Nam, người được bảo lãnh đang làm việc ở Việt NamCặp quen nhau khi một người đang du học, làm việc ở Úc

Một ngộ nhận phổ biến là sang Úc bằng visa du lịch rồi nộp 820 cho nhanh. Visa du lịch cấp cho người Việt thường có điều kiện 8503, chặn việc nộp đa số visa khác trong Úc; khai mục đích du lịch trong khi thật ra định ở lại còn bị coi là khai báo không trung thực. Đi đúng diện ngay từ đầu nhanh hơn đường vòng.

Bốn nhóm bằng chứng Bộ Nội vụ xét

Tài chính. Tài khoản chung, tiền gửi qua lại đều đặn, cùng đứng tên tài sản hoặc khoản vay, chia nhau các khoản chi lớn. Với cặp còn sống ở hai nước, sao kê chuyển tiền và chi phí vé máy bay cho nhau là bằng chứng có giá trị.

Việc nhà và nơi ở. Hợp đồng thuê nhà hoặc giấy tờ nhà đứng tên chung, hoá đơn điện nước, thư từ gửi về cùng một địa chỉ, cách phân chia việc nhà. Cặp chưa ở chung vì còn ở hai nước thì giải thích rõ lý do và kế hoạch ở chung.

Nhìn nhận của xã hội. Ảnh cưới, ảnh các dịp gia đình theo thời gian, lời xác nhận của người quen. Bộ thường yêu cầu hai bản tuyên bố của công dân hoặc thường trú nhân Úc biết về quan hệ của hai người, theo mẫu riêng của Bộ. Ảnh chụp dồn trong một tuần trước khi nộp ít giá trị hơn ảnh rải ra nhiều năm.

Cam kết với nhau. Lịch sử liên lạc, các chuyến thăm, kế hoạch chung về nơi ở, con cái, việc làm; tờ khai cá nhân của mỗi người kể lại quan hệ từ lúc quen. Hai lời kể phải khớp ở các mốc chính: gặp nhau khi nào, ở đâu, ai giới thiệu, cầu hôn ra sao.

Giai đoạn hai: mốc hai năm và trường hợp được xét thẳng thường trú

Sau khi được cấp visa tạm trú (309 hoặc 820), người được bảo lãnh được sống, làm việc, học tập ở Úc và thường đủ điều kiện đăng ký Medicare. Giai đoạn thường trú (100 hoặc 801) được xét khi đã khoảng hai năm kể từ ngày nộp hồ sơ kết hợp. Lúc đó Bộ gửi yêu cầu bổ sung: bằng chứng cập nhật rằng quan hệ vẫn tiếp diễn, lý lịch tư pháp mới nếu cần, tuyên bố của người làm chứng. Không phải nộp hồ sơ mới hay đóng phí mới.

Có ngoại lệ giúp xét thẳng thường trú ngay: nếu lúc nộp hồ sơ, hai người đã có quan hệ ít nhất ba năm, hoặc ít nhất hai năm và có con chung phụ thuộc, Bộ có thể cấp cả visa tạm trú và thường trú cùng lúc. "Quan hệ" ở đây là quan hệ vợ chồng hoặc de facto được chứng minh, không phải thời gian quen biết.

Trong giai đoạn chờ, nên tiếp tục gom bằng chứng ngay từ đầu: lưu sao kê tài khoản chung, hợp đồng thuê nhà mới, ảnh các dịp lễ. Nhiều cặp sau khi nhận visa tạm trú thì quên, đến lúc Bộ hỏi mới cuống cuồng tìm lại giấy tờ hai năm trước.

Khi quan hệ đổ vỡ, khi người bảo lãnh qua đời

Diện partner dựa trên quan hệ, nên quan hệ chấm dứt trước khi có thường trú thì về nguyên tắc người được bảo lãnh không còn đủ điều kiện cho giai đoạn hai, và visa tạm trú có thể bị xem xét huỷ. Người bảo lãnh có thể rút lại sự bảo lãnh bằng văn bản gửi Bộ. Luật có ba ngoại lệ chính: người bảo lãnh qua đời, hai người có con chung mà người được bảo lãnh có quyền nuôi hoặc thăm nom theo phán quyết hoặc thoả thuận, và người được bảo lãnh là nạn nhân bạo lực gia đình do người bảo lãnh gây ra.

Điều khoản bạo lực gia đình tồn tại để người phụ nữ hay người đàn ông bị bạo hành không phải chọn giữa an toàn và visa. Người trong hoàn cảnh này nên tìm đến dịch vụ hỗ trợ bạo lực gia đình và trợ giúp pháp lý ở Úc trước, giữ lại bằng chứng (báo cáo cảnh sát, lệnh bảo vệ, hồ sơ y tế, xác nhận của nhân viên xã hội). Không ai được dùng visa để đe doạ người kia; đó cũng là một dạng bạo lực được pháp luật Úc thừa nhận.

Ngược lại, kết hôn hoặc dựng quan hệ chỉ để lấy visa là gian lận di trú ở Úc, có thể bị từ chối, huỷ visa kể cả sau khi đã có thường trú, cấm nộp nhiều visa trong nhiều năm và bị truy cứu. Kẻ môi giới "kết hôn giấy" thường hứa êm và biến mất khi có chuyện.

Chuẩn bị hồ sơ từ Việt Nam: thứ tự nên làm

Thứ tự dưới đây giúp tránh việc giấy tờ hết hạn khi chưa nộp, hoặc phải làm lại vì sai tên, sai ngày.

  1. Thống nhất cách viết tên trên hộ chiếu, giấy khai sinh, đăng ký kết hôn. Sai khác dấu, thứ tự họ tên giữa các giấy tờ cần giải thích hoặc điều chỉnh trước.
  2. Làm giấy tờ hộ tịch: giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn nếu từng kết hôn, khai sinh của con. Giấy tiếng Việt cần dịch sang tiếng Anh.
  3. Gom bằng chứng quan hệ theo bốn nhóm, sắp theo thời gian, đặt tên tệp rõ ràng.
  4. Viết tờ khai quan hệ của mỗi người, kể theo trình tự, khớp với nhau và với bằng chứng.
  5. Người bảo lãnh nộp phần bảo lãnh trong ImmiAccount sau khi người được bảo lãnh nộp hồ sơ visa.
  6. Chờ hướng dẫn mới khám sức khoẻ và xin lý lịch tư pháp nếu chưa có yêu cầu, để giấy tờ không hết hạn trước khi Bộ cần.

Người có con riêng từ cuộc hôn nhân trước muốn đưa con theo cần sự đồng ý của cha hoặc mẹ còn lại, hoặc quyết định của toà về quyền nuôi con. Đây là khâu hay làm chậm hồ sơ nhất ở các gia đình Việt.

Những lỗi làm hồ sơ partner chậm hoặc bị nghi

Phần lớn hồ sơ partner gặp khó không phải vì quan hệ giả mà vì cách trình bày làm viên chức nghi ngờ. Các lỗi dưới đây gặp lặp đi lặp lại ở hồ sơ của người Việt:

  • Lời kể hai bên lệch nhau ở các mốc đơn giản: ngày gặp lần đầu, ai cầu hôn, đám cưới tổ chức ở đâu. Viết tờ khai riêng nhưng đối chiếu với nhau trước khi nộp.
  • Bằng chứng dồn vào vài tuần trước khi nộp: mở tài khoản chung, chụp ảnh, đứng tên hợp đồng thuê nhà ngay trước ngày nộp. Bằng chứng tốt là bằng chứng có độ dài thời gian.
  • Không giải thích chênh lệch lớn về tuổi, trình độ, ngôn ngữ, hoặc quen qua môi giới hôn nhân. Những điều này không làm hồ sơ bị loại, nhưng cần được kể thẳng và có bằng chứng quá trình tìm hiểu nhau.
  • Giấu lần từ chối visa cũ của người được bảo lãnh, hoặc giấu lần bảo lãnh trước của người bảo lãnh. Bộ có dữ liệu; khai thiếu bị coi là khai sai và nặng hơn nhiều so với chính lần từ chối.
  • Bản dịch sai tên, sai ngày so với bản gốc, hoặc thiếu trang. Một lỗi nhỏ có thể khiến Bộ gửi yêu cầu bổ sung và kéo thêm nhiều tuần.
  • Quên cập nhật thay đổi: đổi địa chỉ, sinh con, mang thai, đổi hộ chiếu trong lúc chờ đều phải báo cho Bộ qua ImmiAccount bằng mẫu khai thay đổi hoàn cảnh.

Hồ sơ không cần dày mới tốt. Viên chức đọc nhanh một hồ sơ có mục lục rõ, bằng chứng chọn lọc theo bốn nhóm và tờ khai mạch lạc hơn một hồ sơ hàng trăm ảnh không chú thích.

Câu hỏi thường gặp

Bảo lãnh vợ chồng sang Úc có cần chứng minh thu nhập không?

Diện partner không đặt ngưỡng thu nhập cố định cho người bảo lãnh như một số nước khác. Tuy vậy, người bảo lãnh cam kết hỗ trợ người được bảo lãnh trong những năm đầu, và bằng chứng tài chính chung là một phần của việc chứng minh quan hệ. Không có việc làm không làm hồ sơ bị loại, nhưng cần trình bày rõ cách hai người sống.

Người được bảo lãnh có phải thi tiếng Anh không?

Diện partner hiện không yêu cầu điểm thi tiếng Anh để được cấp visa. Người mới sang thường có thể học tiếng Anh miễn phí theo chương trình AMEP nếu đủ điều kiện. Tiếng Anh vẫn quyết định cơ hội việc làm và bài thi quốc tịch sau này.

Đang chờ visa 309 có sang Úc thăm chồng hoặc vợ được không?

Có thể xin visa du lịch để thăm, nhưng việc cấp không bảo đảm vì viên chức phải tin người xin sẽ rời Úc đúng hạn. Lưu ý 309 phải được cấp khi người được bảo lãnh ở ngoài Úc, nên nếu đang ở Úc lúc Bộ sẵn sàng cấp thì cần rời Úc.

Đã có quốc tịch Úc sau khi được bảo lãnh, có bảo lãnh người khác ngay được không?

Người từng được bảo lãnh theo diện partner thường phải đợi đủ năm năm kể từ lúc được bảo lãnh mới được bảo lãnh một người phối ngẫu khác, dù đã nhập tịch, trừ trường hợp đặc biệt thuyết phục. Giới hạn này nhằm hạn chế các vòng bảo lãnh nối tiếp.

Cặp cùng giới có được bảo lãnh không?

Có. Luật Úc công nhận hôn nhân cùng giới từ cuối năm 2017 và diện de facto áp dụng cho mọi cặp. Cặp chưa thể kết hôn ở Việt Nam có thể đi diện de facto với bằng chứng chung sống, hoặc đăng ký quan hệ ở bang Úc nếu đủ điều kiện.

Hồ sơ partner bị từ chối thì có khiếu nại được không?

Thường có. Với hồ sơ nộp ngoài Úc, người bảo lãnh là bên nộp đơn xem xét lại; với hồ sơ trong Úc, chính người nộp đơn làm việc này. Cơ quan xem xét lại là Administrative Review Tribunal, thời hạn nộp tính bằng ngày từ khi nhận thư từ chối, nên đọc ngay phần hướng dẫn cuối thư.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0919 83 22 83