DinhCuToanCau.comĐịnh Cư Toàn Cầu
Bảo lãnh định cư Mỹ

Bảo lãnh con ngoài giá thú sang Mỹ: qua mẹ, qua cha, và chứng minh quan hệ cha con

Con sinh ra khi cha mẹ không kết hôn vẫn được bảo lãnh sang Mỹ. Bảo lãnh qua mẹ khá thẳng; qua cha thì cần chứng minh quan hệ cha con thật trước khi con 21 tuổi.

Vietnamese man and a teenage girl seen from behind sitting on a stone embankment by the Perfume River in Hue at dusk, sharing a paper bag of snacks, boats drifting

Trong luật di trú Mỹ, chữ "con" không mặc nhiên bao gồm mọi đứa trẻ có quan hệ huyết thống. Luật liệt kê các loại con được công nhận: con sinh trong hôn nhân, con riêng, con được chính thức hoá, con ngoài giá thú, con nuôi. Mỗi loại có điều kiện riêng. Với con ngoài giá thú, tức con sinh ra khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp với nhau, quyền bảo lãnh vẫn có nhưng đường đi khác nhau rất xa tuỳ người bảo lãnh là mẹ hay cha.

Đây là hoàn cảnh không hiếm trong các gia đình Việt: cha mẹ chung sống không đăng ký, cha sang Mỹ trước khi kịp cưới, hoặc người cha là công dân Mỹ có con với người phụ nữ ở Việt Nam. Bài này giải thích các nguyên tắc, những bằng chứng có sức nặng, chuyện xét nghiệm ADN, và một bước nên làm trước tiên mà nhiều gia đình bỏ qua: kiểm xem đứa con có thể đã là công dân Mỹ từ khi sinh. Những tình huống này rất kỹ thuật; bạn nên đối chiếu với hướng dẫn của USCIS và hỏi người hành nghề luật di trú khi hồ sơ có điểm chưa rõ.

Luật Mỹ định nghĩa "con" như thế nào

Luật Di trú và Quốc tịch Mỹ định nghĩa "con" là người dưới 21 tuổi, chưa kết hôn và thuộc một trong các nhóm quan hệ được liệt kê. Định nghĩa này quan trọng vì nó dùng cho cả những đơn bảo lãnh "con trai, con gái" đã trên 21 tuổi: muốn được bảo lãnh diện F1, F2B hay F3, người con đó phải từng là "con" theo định nghĩa luật trước khi tròn 21.

Với con ngoài giá thú, luật có hai nhánh. Nhánh thứ nhất là con ngoài giá thú được bảo lãnh qua mẹ ruột: quan hệ được công nhận gần như chỉ cần chứng minh mẹ đẻ. Nhánh thứ hai là qua cha ruột: quan hệ được công nhận nếu người cha có hoặc đã từng có quan hệ cha con thật với đứa con, theo nghĩa có gắn bó tình cảm và trách nhiệm thật, hình thành trước khi con 21 tuổi.

Ngoài ra còn nhánh "con được chính thức hoá" (legitimated): con được chính thức hoá theo luật nơi con hoặc cha cư trú trước khi con 16 tuổi và đang ở trong quyền nuôi của cha. Việc luật Việt Nam có được coi là đã xoá bỏ phân biệt giữa con trong và ngoài giá thú để mọi con đều được coi là chính thức hoá hay không là câu hỏi kỹ thuật, USCIS đánh giá theo từng thời kỳ. Đừng tự kết luận; hỏi người hành nghề.

Tóm lược thực tế: qua mẹ thì dễ, qua cha thì cần chứng minh nhiều hơn.

Bảo lãnh qua mẹ: đường thẳng nhất

Nếu người bảo lãnh là mẹ ruột, giấy khai sinh có tên mẹ thường đủ để chứng minh quan hệ. Mẹ là công dân Mỹ bảo lãnh con dưới 21 tuổi chưa kết hôn theo diện thân nhân trực hệ IR2, không chờ hạn ngạch. Mẹ là thường trú nhân thì theo diện F2A. Con đã trên 21 thì vào F1, F2B hay F3 tuỳ tình trạng hôn nhân của con và tư cách của mẹ.

Khó khăn chủ yếu ở đường qua mẹ là chuyện giấy tờ: khai sinh đăng ký muộn, khai sinh ghi thông tin khác giấy tờ của mẹ, hoặc mẹ đổi tên sau khi sang Mỹ. Trường hợp khai sinh đăng ký muộn nhiều năm sau khi sinh, viên chức có thể yêu cầu thêm bằng chứng phụ như giấy chứng sinh của bệnh viện, học bạ có tên mẹ, ảnh chụp từ nhỏ.

Một điểm hay bị quên: nếu mẹ đã kết hôn với một người khác không phải cha đứa trẻ, người chồng đó có thể là cha dượng và cũng có thể bảo lãnh theo diện con riêng nếu cuộc hôn nhân diễn ra trước khi con 18 tuổi. Có gia đình có hai đường cùng lúc và chọn đường thuận lợi hơn.

Nếu người mẹ trước đây khai hồ sơ di trú của mình mà không nêu đứa con này, ví dụ khi được bảo lãnh diện vợ chồng mà không khai con riêng, thì khi nộp đơn bảo lãnh con, sự không nhất quán sẽ lộ ra. Đây là tình huống cần người hành nghề xem xét trước khi nộp, vì có thể đụng tới vấn đề khai sai trong hồ sơ cũ.

Bảo lãnh qua cha: chứng minh quan hệ cha con thật

Quan hệ huyết thống. Bước một là chứng minh người bảo lãnh đúng là cha ruột. Khai sinh có tên cha là bằng chứng chính. Ở Việt Nam, con ngoài giá thú thường có khai sinh để trống phần cha; muốn bổ sung, cha mẹ làm thủ tục đăng ký nhận cha con tại cơ quan hộ tịch theo Luật Hộ tịch, rồi khai sinh được ghi bổ sung. Một khai sinh được bổ sung tên cha ngay trước khi nộp đơn bảo lãnh sẽ bị nhìn kỹ hơn, nên cần thêm bằng chứng khác.

Quan hệ cha con thật. Bước hai là chứng minh gắn bó thật trước khi con 21 tuổi. Viên chức tìm dấu hiệu người cha đã đối xử với đứa trẻ như con: chu cấp tài chính đều đặn, liên lạc, thăm nom, có mặt trong những dịp quan trọng, công khai con là con mình với gia đình và cộng đồng.

Thời điểm. Quan hệ phải hình thành trước khi con 21. Cha mới biết có con khi con 25 tuổi, gặp lần đầu rồi muốn bảo lãnh, thì không còn đáp ứng được định nghĩa, dù huyết thống rõ ràng.

Sự liên tục. Không bắt buộc quan hệ kéo dài liên tục tới hiện tại, nhưng một quan hệ có trước 21 tuổi rồi đứt hẳn nhiều năm sẽ khiến viên chức hỏi kỹ hơn. Bằng chứng trải đều theo thời gian có sức nặng hơn bằng chứng dồn vào một giai đoạn.

Bằng chứng quan hệ cha con: loại nào có sức nặng

Bảng dưới gom các loại bằng chứng thường dùng cho hồ sơ bảo lãnh qua cha. Không có danh sách bắt buộc; viên chức đánh giá tổng thể.

Loại bằng chứngSức nặngGhi chú
Khai sinh có tên cha từ lúc đăng ký ban đầuCaoMạnh hơn khai sinh bổ sung sau nhiều năm
Biên lai chuyển tiền chu cấp đều theo nămCaoCho thấy trách nhiệm tài chính kéo dài
Ảnh cha con theo nhiều giai đoạn tuổiTrung bình đến caoGiá trị nhất khi trải từ nhỏ tới lớn
Học bạ, giấy tờ trường có tên cha là người liên hệTrung bình đến caoBằng chứng do bên thứ ba lập
Thư, tin nhắn qua lại theo thời gianTrung bìnhChọn đoạn tiêu biểu theo năm
Hồ sơ thuế Mỹ của cha khai con là người phụ thuộcTrung bình đến caoCó giá trị nếu khai đúng luật
Thư xác nhận của họ hàng, hàng xómThấp đến trung bìnhChỉ bổ trợ
Kết quả ADNCao về huyết thốngKhông chứng minh quan hệ cha con thật

Điều cần thấy rõ ở bảng: ADN chỉ trả lời câu hỏi huyết thống. Câu hỏi "có quan hệ cha con thật không" phải được trả lời bằng những bằng chứng về đời sống.

Xét nghiệm ADN: khi nào cần và làm đúng cách

USCIS hoặc Lãnh sự quán có thể đề nghị xét nghiệm ADN khi giấy tờ không đủ chứng minh huyết thống. Đây là đề nghị, không phải bắt buộc, nhưng từ chối thì hồ sơ thường không đi tiếp được. Người nộp đơn tự trả chi phí xét nghiệm.

Xét nghiệm phải làm qua phòng xét nghiệm được công nhận theo tiêu chuẩn mà cơ quan Mỹ chấp nhận, và mẫu phía Việt Nam được lấy tại Lãnh sự quán hoặc nơi được chỉ định, theo quy trình giám sát. Một kết quả ADN tự làm ở phòng khám tư tại Việt Nam, dù đúng sự thật, không được chấp nhận cho mục đích di trú.

Một lời khuyên là đừng tự làm xét nghiệm ADN trước khi có yêu cầu với hy vọng "nộp kèm cho chắc". Kết quả không được công nhận, mất tiền. Khi có yêu cầu, làm theo đúng hướng dẫn trong thư.

Kết quả ADN có thể đem lại bất ngờ không mong muốn trong gia đình. Nếu có bất kỳ băn khoăn nào về huyết thống, hãy cân nhắc trước khi khởi động một hồ sơ gần như chắc chắn phải đi tới bước xét nghiệm.

Bước nên làm trước tiên: con có thể đã là công dân Mỹ

Nếu người cha hoặc người mẹ đã là công dân Mỹ tại thời điểm đứa con ra đời, đứa con sinh ở nước ngoài có thể đã có quốc tịch Mỹ từ khi sinh, không cần bảo lãnh. Với con ngoài giá thú, luật Mỹ đặt điều kiện khác nhau tuỳ cha hay mẹ là công dân: qua mẹ thường đơn giản hơn; qua cha thì đòi thêm các điều kiện như cha cam kết chu cấp bằng văn bản, nhận con theo thủ tục pháp lý trước khi con 18 tuổi, cùng yêu cầu về thời gian cha từng sống ở Mỹ trước khi con ra đời.

Thủ tục cho trường hợp này là xin Giấy Báo cáo Công dân Mỹ sinh ở nước ngoài (CRBA) tại Lãnh sự quán khi con còn nhỏ, hoặc xin chứng nhận quốc tịch sau này. Nếu đủ điều kiện, đường này nhanh và chắc hơn đường bảo lãnh nhiều.

Ví dụ giả định: anh Phong là công dân Mỹ từ năm 2010, có con gái với chị Ngọc ở Cần Thơ năm 2015, hai người không kết hôn. Anh đứng tên trong khai sinh, chuyển tiền hằng tháng, về thăm mỗi năm. Trước khi nộp I-130, anh nên kiểm xem con gái đã đủ điều kiện quốc tịch Mỹ từ khi sinh chưa. Nếu đủ, con xin CRBA hoặc hộ chiếu Mỹ, khỏi cần visa định cư.

Ngược lại, nếu cha mẹ nhập tịch sau khi con ra đời, con không có quốc tịch từ khi sinh, nhưng có thể tự động có quốc tịch sau khi nhập cảnh với thẻ xanh nếu dưới 18 tuổi và sống trong quyền nuôi của cha hoặc mẹ là công dân, theo Đạo luật Quốc tịch Trẻ em — với những điều kiện riêng khi quan hệ là qua cha ngoài giá thú. Đây là thêm một lý do để hồ sơ của con dưới 18 được chuẩn bị gọn.

Sai lầm hay gặp ở hồ sơ con ngoài giá thú

Hồ sơ loại này hay chậm vì những chỗ có thể tránh được từ đầu:

  • Nộp I-130 ngay mà không kiểm xem con đã có quốc tịch Mỹ từ khi sinh hay chưa, tốn thời gian và lệ phí cho một hồ sơ không cần.
  • Bổ sung tên cha vào khai sinh ngay trước khi nộp đơn rồi không kèm bằng chứng đời sống nào khác.
  • Nộp bằng chứng dồn vào vài tháng gần ngày nộp đơn, trong khi quan hệ cha con được cho là đã có từ nhiều năm trước.
  • Chuyển tiền qua người quen, không có biên lai, rồi không chứng minh được việc chu cấp.
  • Người cha từng khai trong hồ sơ di trú hoặc hồ sơ thuế của mình là không có con, nay lại bảo lãnh con. Mâu thuẫn này cần được giải thích trung thực.
  • Chọn sai diện: cha mẹ có thẻ xanh nộp F2A trong khi con đã trên 21, hoặc quên rằng con đã kết hôn thì không còn diện nào qua cha mẹ là thường trú nhân.

Với gia đình có hoàn cảnh nhạy cảm, như người cha đã có gia đình khác ở Mỹ, hãy nghĩ trước về việc hồ sơ sẽ đòi giấy tờ và lời khai gì, ai trong nhà sẽ biết. Hồ sơ di trú không phải nơi giữ được bí mật gia đình, và khai thiếu để giữ bí mật là con đường dẫn tới rắc rối lớn hơn.

Câu hỏi thường gặp

Con ngoài giá thú có được bảo lãnh sang Mỹ không?

Được. Luật Mỹ công nhận con ngoài giá thú là "con" cho mục đích bảo lãnh. Qua mẹ ruột thì chỉ cần chứng minh mẹ đẻ; qua cha ruột thì cần chứng minh thêm quan hệ cha con thật hình thành trước khi con 21 tuổi.

Khai sinh không có tên cha thì cha bảo lãnh được không?

Có thể, nhưng cần bổ sung bằng chứng. Ở Việt Nam, cha mẹ làm thủ tục nhận cha con tại cơ quan hộ tịch để khai sinh được ghi tên cha. Kèm theo là bằng chứng chu cấp, liên lạc, thăm nom. Cơ quan Mỹ có thể đề nghị xét nghiệm ADN.

Kết quả ADN có đủ để bảo lãnh qua cha không?

Không đủ một mình. ADN chỉ chứng minh huyết thống. Với con ngoài giá thú bảo lãnh qua cha, luật còn đòi quan hệ cha con thật trước khi con 21 tuổi, chứng minh bằng đời sống như chu cấp, liên lạc, thăm nom.

Tự làm ADN ở phòng khám Việt Nam rồi nộp kèm có được không?

Không được chấp nhận. Xét nghiệm cho mục đích di trú phải làm qua phòng xét nghiệm được công nhận, mẫu lấy theo quy trình giám sát của Lãnh sự quán hoặc nơi được chỉ định. Chỉ làm khi có yêu cầu và theo đúng hướng dẫn trong thư.

Cha là công dân Mỹ thì con sinh ở Việt Nam có cần bảo lãnh không?

Có thể không cần. Nếu cha đã là công dân Mỹ khi con ra đời và đáp ứng các điều kiện riêng cho con ngoài giá thú, con có thể đã có quốc tịch Mỹ từ khi sinh. Kiểm điều kiện CRBA tại Lãnh sự quán trước khi nộp đơn I-130.

Con đã trên 21 tuổi thì cha bảo lãnh ngoài giá thú được không?

Được, theo diện F1, F2B hoặc F3 tuỳ tình trạng hôn nhân của con và tư cách của cha, với điều kiện quan hệ cha con thật đã hình thành trước khi con 21 tuổi. Cha mới nhận con sau 21 tuổi thì không đáp ứng định nghĩa này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0919 83 22 83