Hồ sơ bảo lãnh Mỹ thường kéo dài từ một năm tới hàng chục năm, nên chuyện gia đình có thêm em bé trong lúc chờ là rất bình thường. Câu hỏi đặt ra ngay: em bé sẽ sang Mỹ bằng cách nào, có cùng chuyến với cha mẹ được không, có phải làm hồ sơ mới từ đầu không. Câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào diện bảo lãnh và tình trạng của người bảo lãnh.
Có ba khả năng chính: em bé đã là công dân Mỹ từ lúc sinh và chỉ cần làm giấy tờ công dân; em bé là người đi kèm, chỉ cần bổ sung vào hồ sơ của cha hoặc mẹ; hoặc em bé cần một đơn I-130 riêng. Chọn sai hướng có thể làm chậm cả nhà. Bài này đi qua từng diện, kèm những lưu ý khi đang mang thai lúc khám sức khoẻ và lúc bay. Các điều kiện chi tiết cần kiểm trên travel.state.gov và uscis.gov trước khi nộp.
Nhìn nhanh: diện nào xử lý thế nào
Bảng dưới gom các tình huống phổ biến theo nguyên lý chung. Mỗi dòng đều có ngoại lệ, đọc phần giải thích phía sau trước khi làm.
| Diện đang chờ | Em bé là con của ai | Hướng xử lý thường gặp |
|---|---|---|
| Vợ chồng công dân Mỹ (CR1/IR1) | Con chung của công dân Mỹ | Xét quốc tịch theo cha/mẹ là công dân; không đủ thì đơn I-130 riêng |
| Vợ chồng công dân Mỹ (CR1/IR1) | Con riêng của người được bảo lãnh | Đơn I-130 riêng nếu là con riêng hợp lệ |
| Vợ chồng thường trú nhân (F2A) | Con của người được bảo lãnh | Người đi kèm, bổ sung vào hồ sơ |
| Con cái (F1, F2B, F3) | Cháu của người bảo lãnh | Người đi kèm của cha/mẹ được bảo lãnh |
| Anh chị em (F4) | Con của người được bảo lãnh | Người đi kèm, bổ sung vào hồ sơ |
| Hôn phu thê (K-1) | Con chung hoặc con riêng | Phức tạp hơn; đọc mục riêng bên dưới |
Nguyên tắc nền: các diện thân nhân trực hệ của công dân Mỹ (vợ chồng, cha mẹ, con dưới 21 tuổi chưa kết hôn) không có người đi kèm. Ngược lại, các diện ưu tiên có hạn ngạch (F1 đến F4) cho phép vợ chồng và con dưới 21 tuổi chưa kết hôn của người được bảo lãnh đi kèm.
Diện vợ chồng công dân Mỹ: em bé có thể đã là công dân
Khi người bảo lãnh là công dân Mỹ và em bé là con ruột của người đó, sinh ra ở Việt Nam trong thời kỳ hôn nhân, em bé có thể đã có quốc tịch Mỹ ngay từ lúc sinh theo cơ chế truyền quốc tịch. Điều kiện chính là cha hoặc mẹ công dân Mỹ đã từng có mặt thực tế ở Mỹ đủ thời gian luật đòi trước ngày con chào đời; với trường hợp một bên là công dân Mỹ và bên kia không phải, luật hiện hành đòi tổng cộng năm năm, trong đó ít nhất hai năm sau tuổi 14.
Nếu đạt, cha mẹ nộp hồ sơ xin Giấy khai sinh công dân Mỹ ở nước ngoài (CRBA) và hộ chiếu Mỹ cho bé tại Lãnh sự quán. Em bé không cần visa định cư và không nằm trong hồ sơ I-130 của mẹ. Đây thường là đường nhanh nhất: bé có thể có hộ chiếu Mỹ trước cả khi mẹ được phỏng vấn.
Nếu người cha hoặc mẹ công dân Mỹ chưa đủ thời gian có mặt tại Mỹ, ví dụ người sinh ra ở Mỹ nhưng lớn lên ở Việt Nam, hoặc người mới nhập tịch vài năm, bé không có quốc tịch Mỹ lúc sinh. Khi đó người bảo lãnh nộp một đơn I-130 riêng cho con theo diện con của công dân Mỹ. Thời gian chờ đơn này tách khỏi hồ sơ của mẹ, nên nhiều gia đình nộp ngay khi có giấy khai sinh để hai hồ sơ đi gần nhau nhất có thể.
Diện ưu tiên F2A, F3, F4: thêm người đi kèm
Với các diện có hạn ngạch, em bé là con dưới 21 tuổi chưa kết hôn của người được bảo lãnh chính nên được đi kèm. Bạn không cần đơn I-130 mới, mà cần thông báo cho NVC hoặc cập nhật hồ sơ theo hướng dẫn hiện hành: thêm bé vào danh sách người đi kèm, nộp giấy khai sinh có bản dịch tiếng Anh, sau đó khai DS-260 riêng cho bé và đóng lệ phí xử lý visa cho bé.
Ví dụ giả định: chị Hằng được em trai bảo lãnh diện F4 với chồng và một con. Hồ sơ đã ở NVC thì chị sinh thêm bé thứ hai. Chị báo NVC để thêm bé, nộp giấy khai sinh, chờ hệ thống mở DS-260 cho bé rồi khai. Cả nhà được xếp lịch phỏng vấn cùng nhau nếu hồ sơ của bé hoàn tất kịp; nếu không, bé có thể được phỏng vấn sau theo diện đi theo sau, nhưng điều kiện là bé phải là con của người được bảo lãnh trước khi người đó nhập cảnh Mỹ.
Mốc thời gian quan trọng nhất là ngày người được bảo lãnh chính nhập cảnh. Con sinh ra trước ngày đó có thể đi kèm hoặc đi theo sau. Con sinh ra sau khi cha mẹ đã thành thường trú nhân ở Mỹ thì không còn là người đi kèm, và nếu sinh ở nước ngoài thì cần một đơn bảo lãnh mới, trừ một số trường hợp đặc biệt về con của thường trú nhân sinh ra trong chuyến đi tạm thời.
Diện hôn phu thê K-1: cẩn thận với thời điểm
Diện K-1 có cơ chế riêng. Con chưa kết hôn dưới 21 tuổi của người được bảo lãnh K-1 có thể đi theo visa K-2. Nếu bé là con chung của người bảo lãnh công dân Mỹ và người được bảo lãnh, bé có thể đã có quốc tịch Mỹ theo người cha hoặc mẹ công dân, nhưng khi hai người chưa kết hôn, việc truyền quốc tịch có thêm điều kiện, đặc biệt khi người công dân Mỹ là cha: phải xác lập quan hệ huyết thống và cam kết cấp dưỡng theo đúng thủ tục.
Trong thực tế, nhiều cặp đang chờ K-1 mà có con thường cân nhắc lại: kết hôn tại Việt Nam rồi chuyển sang diện vợ chồng, hoặc giữ K-1 và làm giấy tờ công dân cho bé. Mỗi lựa chọn có hệ quả về thời gian và chi phí khác nhau, đã có bài riêng trên site so sánh K-1 với CR1. Điểm chung là không nên tự suy đoán; hãy hỏi Lãnh sự quán hoặc luật sư di trú về trường hợp của mình trước khi nộp thêm đơn.
Một lưu ý thực tế khác: visa K-2 phải dùng trong thời hạn gắn với visa K-1. Bé sinh ra quá muộn so với thời điểm cha mẹ sang Mỹ có thể không còn dùng được K-2, và khi đó cần một đường khác.
Đang mang thai lúc khám sức khoẻ và lúc bay
Chụp X-quang ngực. Khám sức khoẻ di trú thường gồm chụp X-quang phổi để tầm soát lao. Phụ nữ mang thai có thể được chụp với tấm chắn bảo vệ, hoặc dời việc chụp, hoặc làm xét nghiệm thay thế theo quy trình của bác sĩ được chỉ định. Báo rõ cho bác sĩ ngay khi đặt lịch khám.
Tiêm chủng. Một số vắc-xin sống giảm độc lực không tiêm khi đang mang thai. Bác sĩ có thể ghi những mũi đó là chưa phù hợp về mặt y khoa, và hồ sơ vẫn tiếp tục; bạn bổ sung sau khi sang Mỹ theo hướng dẫn.
Thời hạn kết quả khám. Kết quả khám sức khoẻ có thời hạn, và visa thường được cấp với hạn không vượt quá thời hạn kết quả khám. Nếu dời ngày bay vì sinh nở, hãy tính xem visa có còn hạn hay không.
Quy định hãng bay. Các hãng hàng không có quy định riêng về tuần thai được phép bay, thường đòi giấy xác nhận của bác sĩ ở giai đoạn cuối thai kỳ. Đọc quy định của hãng bạn định đi trước khi đặt vé.
Sinh ở Mỹ sau khi nhập cảnh. Nếu mẹ đã sang Mỹ bằng visa định cư và sinh con ở Mỹ, bé là công dân Mỹ theo nơi sinh, không cần hồ sơ di trú nào.
Giấy tờ cần chuẩn bị ngay khi bé chào đời
Dù bé thuộc trường hợp nào, có một bộ giấy tờ bạn nên lo sớm để không làm chậm hồ sơ của cả nhà:
- Giấy khai sinh Việt Nam bản chính và bản trích lục, ghi đủ tên cha mẹ, khớp chính tả với hộ chiếu của cha mẹ.
- Bản dịch tiếng Anh của giấy khai sinh theo chuẩn mà NVC và Lãnh sự quán chấp nhận.
- Hộ chiếu Việt Nam cho bé nếu bé đi theo diện visa định cư; nếu bé là công dân Mỹ, hộ chiếu Mỹ được làm cùng hồ sơ CRBA.
- Ảnh của bé theo chuẩn ảnh visa hoặc ảnh hộ chiếu tương ứng.
- Với hồ sơ CRBA: giấy tờ chứng minh quốc tịch của cha hoặc mẹ công dân Mỹ, giấy đăng ký kết hôn, bằng chứng thời gian có mặt tại Mỹ như học bạ, bảng lương, hồ sơ thuế, dấu xuất nhập cảnh.
- Bằng chứng quan hệ cha mẹ con nếu Lãnh sự quán yêu cầu, có khi gồm xét nghiệm ADN theo quy trình do họ chỉ định.
Chuẩn bị bằng chứng thời gian có mặt tại Mỹ thường là phần tốn công nhất, vì nó đòi giấy tờ từ nhiều năm trước. Người cha hoặc mẹ công dân Mỹ nên bắt đầu gom từ lúc biết tin có thai.
Sai lầm hay gặp
Sai lầm phổ biến nhất là không báo NVC về em bé, nghĩ rằng tới buổi phỏng vấn mang giấy khai sinh theo là được. Em bé chưa có trong hồ sơ, chưa có DS-260, chưa đóng lệ phí thì không thể được phỏng vấn cùng ngày, và có khi cả nhà phải hoãn hoặc chọn để bé đi sau. Hãy cập nhật ngay khi có giấy khai sinh.
Sai lầm thứ hai là làm đơn I-130 cho bé khi bé thật ra đã là công dân Mỹ, hoặc ngược lại, chờ làm CRBA mà người cha hoặc mẹ không đủ thời gian có mặt tại Mỹ. Hãy kiểm tra điều kiện truyền quốc tịch trước, rồi mới quyết định đường đi.
Sai lầm thứ ba là tính sai mốc thời gian: cha mẹ đi trước, định để bé sinh xong ở Việt Nam rồi sang sau theo diện đi theo sau, trong khi bé sinh ra sau ngày người được bảo lãnh chính nhập cảnh nên không còn đi kèm được. Với gia đình đang chờ diện ưu tiên và sắp sinh, thời điểm nhập cảnh của người được bảo lãnh chính nên được tính cùng ngày dự sinh, và hỏi Lãnh sự quán nếu cần dời lịch.
Câu hỏi thường gặp
Con sinh ra khi hồ sơ F4 đang chờ có được đi cùng không?
Được, nếu bé là con dưới 21 tuổi chưa kết hôn của người được bảo lãnh chính và sinh ra trước khi người đó nhập cảnh Mỹ. Bạn cần báo NVC để thêm bé, nộp giấy khai sinh, khai DS-260 và đóng lệ phí cho bé.
Chồng là công dân Mỹ, con sinh ở Việt Nam có tự động là công dân không?
Có thể, nếu người chồng là cha ruột và đã có mặt thực tế ở Mỹ đủ thời gian luật đòi trước khi con sinh ra, hiện là tổng năm năm với ít nhất hai năm sau tuổi 14. Nếu đạt, nộp CRBA tại Lãnh sự quán; nếu không, cần đơn I-130 riêng cho con.
Có thể thêm con vào đơn I-130 của vợ diện CR1 không?
Không. Diện vợ chồng của công dân Mỹ không có người đi kèm. Mỗi người con cần quốc tịch Mỹ theo cha mẹ hoặc một đơn I-130 riêng của người bảo lãnh. Nên nộp sớm để hồ sơ của con không chậm quá xa hồ sơ của mẹ.
Đang mang thai có phải hoãn khám sức khoẻ định cư không?
Không nhất thiết. Bác sĩ được chỉ định có quy trình riêng cho phụ nữ mang thai, có thể chụp X-quang với tấm chắn hoặc dùng xét nghiệm thay thế. Một số mũi tiêm sẽ được ghi là chưa phù hợp về y khoa và bổ sung sau. Báo bác sĩ ngay khi đặt lịch.
Bé sinh sau khi cha mẹ đã sang Mỹ bằng thẻ xanh thì sao?
Nếu sinh tại Mỹ, bé là công dân Mỹ theo nơi sinh. Nếu sinh ở nước ngoài sau khi cha mẹ đã thành thường trú nhân, bé không còn là người đi kèm và thường cần một đơn bảo lãnh mới, trừ một số trường hợp đặc biệt cần hỏi Lãnh sự quán.