Phần lớn visa định cư và nhiều visa tạm trú của Úc đòi người nộp khám sức khoẻ tại phòng khám được Bộ Nội vụ chỉ định. Mỗi lần khám gắn với một mã HAP ID (Health Assessment Portal ID), và kết quả được bác sĩ gửi thẳng cho Bộ qua hệ thống eMedical, bạn không tự nộp bản giấy. Ở Việt Nam có phòng khám chỉ định tại Hà Nội và TP.HCM; danh sách hiện hành nằm trên immi.homeaffairs.gov.au.
Mục đích của yêu cầu sức khoẻ không phải để loại người có bệnh mà để kiểm ba điều: không mang bệnh nguy hiểm cho cộng đồng (chủ yếu là lao phổi đang hoạt động), không có tình trạng sức khoẻ dự kiến gây chi phí đáng kể cho hệ thống y tế và dịch vụ cộng đồng của Úc, và không chiếm chỗ của người Úc ở những dịch vụ đang khan hiếm như ghép tạng hay lọc máu. Bài này giải thích cách lấy HAP ID, các xét nghiệm theo tuổi, cách Bộ đánh giá, và cơ chế miễn trừ cho người không đạt.
Từ HAP ID đến kết quả: các bước khám
Có hai cách bắt đầu, tuỳ việc bạn muốn khám trước hay sau khi nộp hồ sơ visa.
- Khám trước khi nộp: dùng chức năng My Health Declarations trong ImmiAccount để khai thông tin và nhận HAP ID. Cách này giúp hồ sơ đầy đủ ngay lúc nộp, phù hợp khi bạn đã rõ mình sẽ nộp trong vài tháng tới.
- Khám sau khi nộp: nộp hồ sơ visa trước, sau đó HAP ID xuất hiện trong ImmiAccount hoặc trong thư yêu cầu của Bộ. Cách này tránh khám quá sớm rồi kết quả hết hạn trong lúc chờ.
- Đặt lịch với phòng khám chỉ định, mang theo hộ chiếu, thư hoặc mã HAP ID, kính thuốc nếu có, hồ sơ y tế về bệnh đang điều trị, phim X-quang cũ nếu từng mắc lao.
- Khám và làm xét nghiệm theo danh mục mà hệ thống eMedical sinh ra cho đúng tuổi và loại visa của bạn.
- Theo dõi trạng thái trong ImmiAccount. Thông báo "không cần thêm hành động về sức khoẻ" là phần sức khoẻ đã xong; nếu Bộ cần thêm, họ sẽ gửi yêu cầu cụ thể.
Kết quả khám thường có giá trị khoảng mười hai tháng. Nếu hồ sơ của bạn dự kiến xét lâu hơn, khám sớm có thể phải khám lại. Đây là lý do nhiều người theo diện chờ lâu như partner hay cha mẹ chọn chờ Bộ yêu cầu rồi mới khám.
Xét nghiệm thường gặp theo tuổi và loại visa
Danh mục cụ thể do eMedical quyết định dựa trên tuổi, loại visa, thời gian định ở Úc, nghề và nước bạn từng sống. Bảng dưới là khung thường gặp với người Việt xin visa thường trú; visa tạm trú thường ít hạng mục hơn.
| Hạng mục | Áp dụng cho | Mục đích |
|---|---|---|
| Khám tổng quát với bác sĩ | Mọi độ tuổi, theo yêu cầu của visa | Tiền sử bệnh, huyết áp, thị lực, khám toàn thân |
| X-quang phổi | Thường từ 11 tuổi trở lên | Phát hiện lao phổi và tổn thương phổi |
| Xét nghiệm HIV | Thường từ 15 tuổi trở lên với visa thường trú | Đánh giá chi phí điều trị và chăm sóc |
| Viêm gan B, C | Phụ nữ mang thai, trẻ đi một mình, người làm nghề y tế hoặc theo yêu cầu riêng | Bảo vệ người bệnh và đánh giá chi phí |
| Xét nghiệm bổ sung | Khi bác sĩ hoặc Bộ yêu cầu | Làm rõ một dấu hiệu bất thường |
Phụ nữ mang thai có thể xin hoãn chụp X-quang tới sau khi sinh, hoặc chụp với biện pháp bảo vệ theo hướng dẫn của bác sĩ. Hoãn chụp nghĩa là hồ sơ có thể chưa được cấp cho tới khi hoàn tất.
Lao phổi: lý do phổ biến nhất khiến hồ sơ người Việt bị dừng lại
Việt Nam thuộc nhóm nước có tỉ lệ mắc lao cao theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, vì vậy lao là vấn đề sức khoẻ gặp nhiều nhất ở hồ sơ người Việt. Nếu X-quang phổi có hình ảnh nghi ngờ, bác sĩ sẽ yêu cầu xét nghiệm đờm và có thể chuyển khám chuyên khoa. Lao phổi đang hoạt động thì không được cấp visa cho tới khi điều trị xong và được xác nhận khỏi.
Điều này không phải là án từ chối vĩnh viễn. Người bị lao điều trị đủ phác đồ, có kết quả xét nghiệm âm tính, thường có thể tiếp tục hồ sơ. Người có vết sẹo lao cũ đã ổn định có thể được yêu cầu ký cam kết theo dõi sức khoẻ (health undertaking): sau khi sang Úc phải liên hệ cơ quan y tế của bang để khám lại trong thời hạn quy định.
Nếu bạn từng điều trị lao, hãy mang theo đầy đủ hồ sơ điều trị, phim cũ, kết quả xét nghiệm đờm. Hồ sơ rõ ràng giúp bác sĩ phân biệt sẹo cũ và tổn thương mới, rút ngắn đáng kể thời gian. Che giấu tiền sử lao không giúp được gì vì phim X-quang sẽ thấy, và khai sai về sức khoẻ là vấn đề khai báo không trung thực.
Chi phí đáng kể: Bộ đánh giá thế nào
Với các tình trạng mạn tính như bệnh thận, ung thư đang điều trị, rối loạn phát triển, khuyết tật cần hỗ trợ lâu dài, viên chức y tế của Bộ (Medical Officer of the Commonwealth) ước tính chi phí mà tình trạng đó có thể gây ra cho hệ thống y tế và dịch vụ cộng đồng của Úc. Nếu ước tính vượt ngưỡng chi phí đáng kể mà Bộ công bố, người đó không đạt yêu cầu sức khoẻ. Ngưỡng này được điều chỉnh theo thời kỳ; với visa thường trú, khoảng thời gian tính chi phí thường là năm năm, với tình trạng vĩnh viễn có thể tính dài hơn.
Đánh giá dựa trên tình trạng, không dựa trên việc bạn có tiền tự chi trả hay có bảo hiểm tư nhân. Lời hứa "gia đình tự lo chi phí" không làm thay đổi kết quả đánh giá, vì nhiều dịch vụ như giáo dục đặc biệt hay hỗ trợ khuyết tật không thể loại trừ bằng cam kết cá nhân.
Một điểm hay bị bất ngờ: với nhiều visa thường trú, mọi thành viên gia đình phụ thuộc, kể cả người không đi cùng, cũng phải đạt yêu cầu sức khoẻ. Một người con phụ thuộc ở lại Việt Nam có tình trạng sức khoẻ nghiêm trọng có thể ảnh hưởng hồ sơ của cả nhà, trừ khi có miễn trừ.
Miễn trừ sức khoẻ: ai có, ai không
Diện có thể xin miễn trừ. Một số visa cho phép xem xét miễn trừ yêu cầu sức khoẻ (health waiver): thường gặp là diện vợ chồng, con, một số diện chủ lao động bảo lãnh thường trú và diện nhân đạo. Bộ xem xét toàn bộ hoàn cảnh: mức độ chi phí, khả năng giảm chi phí, đóng góp của gia đình cho Úc, yếu tố nhân đạo.
Diện thường không có miễn trừ. Các diện tay nghề tính điểm như 189, 190 thường không có cơ chế miễn trừ. Người không đạt sức khoẻ ở những diện này gần như không có đường đi tiếp trên cùng visa, nên cần biết tình trạng của cả nhà trước khi đầu tư vào thẩm định tay nghề, thi tiếng Anh.
Chuẩn bị hồ sơ miễn trừ. Khi Bộ mời đề nghị miễn trừ, bạn có thời hạn để nộp giải trình: báo cáo chuyên khoa về tiên lượng, kế hoạch chăm sóc, khả năng làm việc, đóng góp của người bảo lãnh, thư của cộng đồng. Đây là phần nên nhờ người tư vấn có đăng ký hoặc luật sư.
Kết quả không thuận lợi. Nếu bị từ chối vì sức khoẻ, một số trường hợp có quyền xem xét lại, nhưng tòa thường không xét lại kết luận chuyên môn của viên chức y tế mà xét cách áp dụng luật và việc xem xét miễn trừ.
Chuẩn bị trước ngày khám để tránh khám lại
Ngủ đủ, không uống rượu bia hôm trước, mang kính nếu có đeo, uống thuốc huyết áp, tiểu đường như thường lệ và mang theo đơn thuốc. Huyết áp cao do căng thẳng khi khám có thể khiến bác sĩ đề nghị đo lại. Nếu đang điều trị bệnh mạn tính, mang hồ sơ bệnh án gần nhất, kết quả xét nghiệm, tóm tắt của bác sĩ điều trị bằng tiếng Anh nếu có, để viên chức y tế có đủ thông tin mà không phải yêu cầu bổ sung.
Với trẻ em, mang sổ tiêm chủng. Úc có chính sách tiêm chủng riêng; việc tiêm đủ mũi theo lịch của Úc liên quan đến một số trợ cấp gia đình và việc nhập học ở một số bang, dù không phải điều kiện cấp visa.
Đừng nhờ người khác khám thay hay dùng phim của người khác. Phòng khám chỉ định kiểm danh tính bằng hộ chiếu và chụp ảnh; gian lận trong khâu sức khoẻ dẫn tới từ chối và có thể bị cấm nộp visa nhiều năm.
Visa tạm trú: khi nào phải khám, khi nào không
Không phải visa nào cũng cần khám. Với visa tạm trú như du lịch, du học, lao động tạm thời, yêu cầu khám phụ thuộc vào thời gian bạn định ở Úc, mức nguy cơ lao của nước bạn sống (Việt Nam thuộc nhóm có nguy cơ cao hơn), nghề định làm và hoàn cảnh riêng. Người định ở dài hơn một mốc thời gian nhất định thường phải chụp X-quang phổi; người định làm việc hoặc học trong bệnh viện, nhà trẻ, trường học có thể phải khám thêm.
Hệ thống eMedical tự sinh danh mục khám khi bạn khai thông tin, vì vậy đừng dựa vào kinh nghiệm của người quen cùng loại visa nhưng khác thời gian lưu trú hay nghề. Hai người cùng xin visa du lịch, một người đi ba tuần và một người định ở chín tháng với con, có thể nhận yêu cầu khác nhau.
Với người theo lộ trình du học rồi định cư, mỗi lần đổi visa có thể phải khám lại phần nào đó. Lưu giữ HAP ID cũ và kết quả các lần trước; khi kết quả còn hạn và phù hợp, hệ thống có thể dùng lại, giảm số lần phải chụp phim. Người từng có kết quả bất thường ở lần trước nên mang theo hồ sơ của lần đó cho mọi lần khám sau.
Câu hỏi thường gặp
Khám sức khoẻ visa Úc ở Việt Nam mất bao lâu có kết quả?
Phần khám thường xong trong một buổi. Kết quả được phòng khám gửi lên eMedical trong vài ngày làm việc nếu không có bất thường. Trường hợp cần xét nghiệm đờm lao hoặc khám chuyên khoa, thời gian có thể kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng.
Có thể khám ở Úc thay vì ở Việt Nam không?
Có, nếu bạn đang ở Úc, khám tại cơ sở được Bộ chỉ định ở Úc. Người đang ở Việt Nam thì khám tại phòng khám chỉ định ở Việt Nam. Kết quả đều đi qua eMedical nên không phụ thuộc nơi khám.
Kết quả khám cho visa du học dùng lại cho visa thường trú được không?
Đôi khi được nếu kết quả còn hạn và các hạng mục đã làm đủ cho visa mới. Hệ thống sẽ cho biết bạn có cần khám thêm hay không khi lấy HAP ID mới hoặc khi Bộ xem hồ sơ. Visa thường trú thường có thêm hạng mục so với visa tạm trú.
Mang thai có ảnh hưởng tới hồ sơ không?
Mang thai không làm hồ sơ bị từ chối. Bạn có thể xin hoãn chụp X-quang và hồ sơ có thể chờ cho tới khi hoàn tất. Em bé sinh ra trong lúc chờ cần được thêm vào hồ sơ và cũng có thể phải khám.
Người cao tuổi có bệnh tiểu đường, huyết áp có bị từ chối không?
Tiểu đường, huyết áp được kiểm soát tốt thường không gây vấn đề lớn. Điều Bộ quan tâm là biến chứng như suy thận, bệnh tim nặng có thể dẫn tới chi phí đáng kể. Mang hồ sơ điều trị đầy đủ để viên chức y tế đánh giá chính xác.
Có cần dịch hồ sơ bệnh án sang tiếng Anh không?
Nên có bản tóm tắt hoặc bản dịch tiếng Anh của các kết quả quan trọng. Bác sĩ phòng khám chỉ định có thể đọc tiếng Việt, nhưng hồ sơ được chuyển cho viên chức y tế của Bộ đọc bằng tiếng Anh.