Muốn kết hôn với người Nhật và sang Nhật sống cùng, bạn đi ba chặng: đăng ký kết hôn ở một nước (Việt Nam hoặc Nhật), báo cáo hoặc ghi chú việc kết hôn ở nước còn lại để hôn nhân được công nhận ở cả hai nơi, rồi xin tư cách lưu trú "vợ chồng người Nhật" (nihonjin no haigusha-tō) qua giấy chứng nhận tư cách lưu trú COE do người vợ hoặc chồng Nhật nộp ở Cục Xuất nhập cảnh khu vực. Có COE, người Việt xin visa tại cơ quan đại diện Nhật ở Việt Nam rồi nhập cảnh.
Tư cách vợ chồng người Nhật khác hẳn visa gia đình (kazoku taizai) dành cho vợ chồng của người nước ngoài đang làm việc ở Nhật: nó không giới hạn loại công việc, và là bậc dẫn tới vĩnh trú hoặc nhập quốc tịch với thời gian ngắn hơn diện thông thường. Đổi lại, cơ quan Nhật xét rất kỹ tính thật của hôn nhân. Phần lớn hồ sơ bị từ chối không phải vì thiếu giấy, mà vì câu chuyện quen biết không thuyết phục hoặc người Nhật không chứng minh được khả năng nuôi gia đình.
Chọn nơi đăng ký trước: Việt Nam hay Nhật
Hai cách đều hợp pháp; cách nào thuận hơn tuỳ hai người đang ở đâu. Trình tự thường gặp:
- Đăng ký tại Nhật trước. Người Nhật nộp tờ khai kết hôn (kon'in todoke) tại toà thị chính nơi có hộ khẩu hoặc nơi cư trú. Người Việt cần giấy tờ chứng minh đủ điều kiện kết hôn theo luật Việt Nam, thường là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và giấy khai sinh, kèm bản dịch tiếng Nhật; toà thị chính có thể yêu cầu thêm giấy do Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật cấp. Sau đó người Việt làm thủ tục ghi chú kết hôn để hôn nhân được ghi vào sổ hộ tịch Việt Nam.
- Đăng ký tại Việt Nam trước. Hồ sơ nộp ở cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền với hôn nhân có yếu tố nước ngoài; sau khi bỏ cấp huyện từ 1/7/2025, kiểm nơi tiếp nhận hiện hành tại địa phương. Người Nhật cần giấy chứng nhận đủ điều kiện kết hôn (kon'in yōken gubi shōmeisho) do Cục Pháp vụ hoặc cơ quan đại diện Nhật cấp, cùng giấy tờ tuỳ thân. Pháp luật Việt Nam còn yêu cầu giấy xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức của cả hai bên. Hai người thường phải có mặt khi trao giấy chứng nhận kết hôn.
- Báo cáo phía Nhật. Nếu đăng ký ở Việt Nam, người Nhật nộp báo cáo kết hôn kèm giấy chứng nhận kết hôn Việt Nam và bản dịch cho toà thị chính hoặc cơ quan đại diện Nhật trong thời hạn quy định, để việc kết hôn được ghi vào hộ tịch koseki.
- Lấy bản koseki có ghi việc kết hôn. Đây là giấy quan trọng nhất của hồ sơ COE: nó chứng minh với Cục Xuất nhập cảnh rằng phía Nhật đã công nhận hôn nhân.
Từ 11/9/2026, Việt Nam áp dụng Công ước Apostille, và Nhật là thành viên của công ước này. Một số giấy tờ Việt Nam dùng ở Nhật có thể được chứng nhận Apostille thay cho chuỗi hợp pháp hoá lãnh sự; tuy vậy toà thị chính Nhật có thông lệ riêng về bản dịch và giấy tờ kèm theo, nên hỏi trước nơi nhận hồ sơ.
Hồ sơ COE vợ chồng người Nhật: cơ quan xem gì
Người Nhật nộp đơn xin COE tại Cục Xuất nhập cảnh khu vực nơi mình cư trú. Danh mục giấy tờ cụ thể được công bố trên trang của Cơ quan Xuất nhập cảnh và Lưu trú Nhật Bản (isa.go.jp), nhưng về bản chất cơ quan cần trả lời được hai câu: hôn nhân này có thật không, và hai người có sống được ở Nhật không.
Với câu thứ nhất, giấy tờ trung tâm là bản câu hỏi về quá trình quen biết (shitsumonsho): quen nhau thế nào, gặp mấy lần, ở đâu, ai giới thiệu, ngôn ngữ giao tiếp, đã gặp gia đình hai bên chưa, lễ cưới tổ chức ra sao. Kèm theo là ảnh chụp chung qua nhiều thời điểm, lịch sử nhắn tin và gọi điện, vé máy bay, dấu xuất nhập cảnh của các lần thăm nhau. Câu trả lời của hai người phải khớp nhau và khớp với giấy tờ.
Với câu thứ hai, người Nhật nộp giấy chứng nhận thu nhập và nộp thuế cư trú do toà thị chính cấp, giấy xác nhận việc làm, phiếu cư trú (jūminhyō) và giấy bảo lãnh nhân thân (mimoto hoshōsho). Không có một mức thu nhập tối thiểu công bố cứng; cơ quan đánh giá tổng thể thu nhập, tài sản, chỗ ở và số người trong hộ. Người Nhật thu nhập thấp vẫn có thể được duyệt nếu có tiết kiệm hoặc người thân hỗ trợ, nhưng cần giải thích rõ bằng giấy tờ.
Thời gian xét COE thường tính bằng tháng và thay đổi theo từng Cục khu vực. Khi có COE, người Việt nộp hồ sơ xin visa tại cơ quan đại diện Nhật ở Việt Nam phụ trách khu vực mình cư trú, thường qua đại lý tiếp nhận được chỉ định; COE có hạn hiệu lực, nên phải nhập cảnh trước khi hết hạn.
Những điểm khiến hồ sơ bị nghi hoặc bị từ chối
Cơ quan Nhật không công bố lý do chi tiết trong mọi trường hợp, nhưng các dấu hiệu dưới đây lặp lại trong nhiều hồ sơ bị từ chối. Biết trước để giải thích bằng giấy tờ, không phải để "che".
| Dấu hiệu | Vì sao cơ quan để ý | Cách xử lý đúng |
|---|---|---|
| Quen qua môi giới, cưới sau vài lần gặp | Mẫu hình của hôn nhân thương mại | Kể đúng sự thật, bổ sung bằng chứng liên lạc dài hạn và các lần gặp sau đó |
| Chênh lệch tuổi lớn | Không tự nó là lý do từ chối, nhưng làm cơ quan xem kỹ hơn | Chứng minh quá trình tìm hiểu, gia đình hai bên biết và chấp nhận |
| Không có ngôn ngữ chung | Khó tin hai người trao đổi được về cuộc sống chung | Học tiếng, nêu rõ cách hai người giao tiếp hiện nay |
| Người Việt từng ở Nhật quá hạn hoặc bỏ trốn khỏi chương trình thực tập | Lịch sử vi phạm cư trú | Khai trung thực; giấu sẽ nặng hơn nhiều khi bị phát hiện |
| Người Nhật thu nhập thấp, không tiết kiệm | Lo ngại không tự nuôi được gia đình | Bổ sung tiết kiệm, cam kết hỗ trợ của người thân, kế hoạch việc làm |
| Câu trả lời hai người lệch nhau | Dấu hiệu khai báo không thật | Rà lại cùng nhau mọi mốc thời gian trước khi nộp |
Nếu bị từ chối, người Nhật có thể đến Cục Xuất nhập cảnh hỏi lý do, rồi nộp lại khi đã khắc phục. Nộp lại ngay với cùng bộ giấy tờ hầu như không thay đổi kết quả. Kết hôn giả để lấy tư cách lưu trú là tội ở Nhật, cả người Nhật và người nước ngoài đều có thể bị xử lý hình sự.
Sống ở Nhật với tư cách vợ chồng người Nhật: gia hạn và nghĩa vụ
Tư cách vợ chồng người Nhật được cấp với thời hạn 6 tháng, 1 năm, 3 năm hoặc 5 năm. Lần đầu thường là thời hạn ngắn; các lần gia hạn sau dài dần nếu hai người sống chung ổn định, đóng thuế, bảo hiểm y tế và lương hưu đúng hạn. Người Việt được làm bất kỳ công việc hợp pháp nào, kể cả làm thêm nhiều việc hay kinh doanh, vì tư cách này không giới hạn hoạt động như visa kỹ sư hay visa du học.
Khi vào Nhật, người Việt nhận thẻ cư trú (zairyū card) và đăng ký địa chỉ tại toà thị chính trong thời hạn quy định, tham gia bảo hiểm y tế và lương hưu theo hộ. Mỗi lần gia hạn, cơ quan xem lại thu nhập, thuế, việc chung sống. Sống ly thân kéo dài mà không có lý do chính đáng có thể làm hồ sơ gia hạn bị nghi.
Đây cũng là lúc nên nghĩ đến lâu dài. Theo hướng dẫn của cơ quan Nhật, vợ hoặc chồng người Nhật có thể xin vĩnh trú khi hôn nhân thật đã kéo dài khoảng 3 năm và đã sống ở Nhật từ khoảng 1 năm trở lên, với điều kiện thuế, bảo hiểm, lương hưu không có vết. Nhập quốc tịch Nhật cũng được rút ngắn điều kiện cư trú cho vợ chồng người Nhật, nhưng đòi thôi quốc tịch Việt Nam. Các mốc này nên được kiểm lại trên isa.go.jp và trang Bộ Tư pháp Nhật trước khi nộp.
Khi hôn nhân gặp trục trặc: ly hôn, người chồng mất, bạo lực gia đình
Phải báo Cục Xuất nhập cảnh. Khi ly hôn hoặc người phối ngẫu Nhật mất, người nước ngoài có nghĩa vụ báo cho cơ quan xuất nhập cảnh trong thời hạn quy định. Tư cách vợ chồng người Nhật không tự mất ngay, nhưng nếu không còn hoạt động đúng tư cách trong một thời gian dài, nó có thể bị huỷ.
Có thể đổi sang tư cách khác. Người đã sống ở Nhật nhiều năm, hoặc đang nuôi con mang quốc tịch Nhật, thường được xem xét chuyển sang tư cách định trú (teijūsha). Người đủ điều kiện làm việc chuyên môn có thể đổi sang visa lao động phù hợp. Mỗi trường hợp xét riêng, cần chuẩn bị giấy tờ chứng minh lý do và khả năng tự sống.
Bạo lực gia đình không phải lý do để im lặng. Nhật có hệ thống trung tâm tư vấn và nơi tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình, kể cả người nước ngoài. Cơ quan xuất nhập cảnh có tính đến hoàn cảnh này khi xét tư cách lưu trú, nên rời khỏi nơi bị bạo hành không đồng nghĩa với mất quyền ở lại. Hãy liên hệ chính quyền địa phương, cảnh sát hoặc Đại sứ quán Việt Nam.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài cần ghi nhận ở cả hai nơi. Ly hôn thuận tình đăng ký ở Nhật cần được ghi chú vào hộ tịch Việt Nam thì người Việt mới được coi là đã ly hôn ở Việt Nam, ví dụ khi muốn kết hôn lại hay giải quyết tài sản trong nước.
Con cái sinh ra và quốc tịch của con
Con sinh ra có cha hoặc mẹ là người Nhật có quốc tịch Nhật theo huyết thống. Nếu cha hoặc mẹ còn lại là người Việt, con có thể đồng thời có quốc tịch Việt Nam theo luật Việt Nam khi được đăng ký khai sinh hoặc ghi chú phù hợp. Luật Quốc tịch Nhật yêu cầu người mang hai quốc tịch chọn một quốc tịch trước một độ tuổi nhất định; luật này áp dụng cho chính đứa trẻ khi lớn lên, nên gia đình cần biết từ sớm để không bị bất ngờ.
Việc khai sinh cho con ở Nhật làm tại toà thị chính trong thời hạn ngắn sau khi sinh. Nếu muốn con có quốc tịch Việt Nam, gia đình làm thêm thủ tục với Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Nhật. Trường hợp con sinh ra trước khi hai người đăng ký kết hôn, việc người cha Nhật nhận con có những quy định riêng về thời điểm và hồ sơ; hãy hỏi Cục Pháp vụ nơi cư trú.
Khi gia đình về Việt Nam sống, con mang hộ chiếu Nhật vào Việt Nam theo quy định nhập cảnh với người nước ngoài, trừ khi con cũng có hộ chiếu Việt Nam. Việc học, bảo hiểm và cư trú của con ở Việt Nam vì thế phụ thuộc con đang được ghi nhận quốc tịch nào.
Câu hỏi thường gặp
Kết hôn với người Nhật bao lâu thì được sang Nhật?
Không có con số chung. Thời gian gồm đăng ký kết hôn ở một nước, ghi nhận ở nước kia, xét COE ở Cục Xuất nhập cảnh khu vực và xét visa ở cơ quan đại diện Nhật tại Việt Nam. Mỗi chặng thường tính bằng tuần tới vài tháng tuỳ nơi nộp và mức đầy đủ của hồ sơ.
Người Việt đang ở Nhật bằng visa du học có đổi sang visa vợ chồng người Nhật được không?
Được, bằng thủ tục đổi tư cách lưu trú tại Cục Xuất nhập cảnh thay vì xin COE. Cơ quan vẫn xét tính thật của hôn nhân và khả năng tài chính như hồ sơ từ Việt Nam, và xem cả lịch sử du học, làm thêm, đi học có đầy đủ không.
Có cần biết tiếng Nhật để xin visa vợ chồng người Nhật không?
Không có yêu cầu chứng chỉ tiếng Nhật bắt buộc. Tuy vậy, cơ quan muốn thấy hai người giao tiếp được với nhau. Nếu cả hai chỉ dùng công cụ dịch, hồ sơ dễ bị hỏi thêm. Học tiếng Nhật trước khi sang cũng giúp người Việt đi làm và hội nhập nhanh hơn.
Visa vợ chồng người Nhật có được đưa con riêng sang không?
Con riêng chưa thành niên của người Việt thường không đi theo tư cách vợ chồng người Nhật. Tuỳ hoàn cảnh, con có thể được xét tư cách định trú nếu được người cha hoặc mẹ Nhật nhận nuôi hoặc sống phụ thuộc, nhưng đây là hồ sơ riêng và xét theo từng trường hợp.
Có phải hai người tổ chức đám cưới mới được duyệt không?
Luật không bắt buộc tổ chức đám cưới. Nhưng ảnh lễ cưới, buổi gặp gia đình hai bên là bằng chứng mạnh về hôn nhân thật, nên nhiều cặp vẫn tổ chức dù nhỏ. Không có đám cưới thì cần bằng chứng khác về việc gia đình biết và chấp nhận.
Đăng ký kết hôn ở Việt Nam rồi thì có cần đăng ký lại ở Nhật không?
Không đăng ký lại từ đầu, nhưng người Nhật phải nộp báo cáo kết hôn cho toà thị chính hoặc cơ quan đại diện Nhật để việc kết hôn được ghi vào hộ tịch koseki. Thiếu bước này thì không có bản koseki để nộp hồ sơ COE.