Định cư Mỹ diện F4 là diện công dân Mỹ từ 21 tuổi trở lên bảo lãnh anh chị em ruột. Người được bảo lãnh được đưa theo vợ hoặc chồng và các con chưa lập gia đình dưới 21 tuổi. Thường trú nhân (người có thẻ xanh) không bảo lãnh được anh chị em; họ phải nhập tịch trước.
Hồ sơ F4 có ba đặc điểm cần nắm ngay từ đầu. Một là quan hệ anh chị em phải chứng minh qua cha mẹ chung, nên giấy khai sinh của cả hai bên là xương sống của hồ sơ. Hai là hàng chờ dài nhất trong các diện gia đình, nên hồ sơ phải "sống" được nhiều năm qua những thay đổi như con lớn, người bảo lãnh già yếu hay qua đời. Ba là người bảo lãnh vẫn phải bảo trợ tài chính bằng mẫu I-864 khi tới lượt, dù lúc đó có thể đã nghỉ hưu.
Bài này đi qua điều kiện của từng loại anh chị em (ruột, cùng cha khác mẹ, con riêng, con nuôi), giấy tờ chứng minh hay bị hỏi, quy trình và những tình huống làm hồ sơ F4 dừng giữa đường. Chuyện vì sao F4 chờ lâu được phân tích ở một bài riêng.
Ai được bảo lãnh trong diện F4
Điều kiện chung: người bảo lãnh là công dân Mỹ từ 21 tuổi khi nộp đơn, và hai người có ít nhất một cha hoặc một mẹ chung. Cách chứng minh khác nhau theo loại quan hệ:
| Quan hệ | Điều kiện thêm | Giấy tờ chính |
|---|---|---|
| Anh chị em cùng cha cùng mẹ | Không có điều kiện thêm | Giấy khai sinh của cả hai người, ghi cùng cha và mẹ |
| Cùng mẹ khác cha | Quan hệ mẹ con của cả hai phải được ghi nhận | Giấy khai sinh của cả hai ghi cùng mẹ |
| Cùng cha khác mẹ | Quan hệ cha con của cả hai phải được ghi nhận hợp lệ; với con ngoài giá thú cần thêm bằng chứng thừa nhận hoặc quan hệ thực tế theo quy định | Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn của cha với từng mẹ, giấy nhận cha con nếu có |
| Anh chị em kế (con riêng) | Cuộc hôn nhân tạo ra quan hệ kế phải diễn ra trước khi cả hai người tròn 18 tuổi | Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn của cha hoặc mẹ với vợ/chồng sau |
| Anh chị em qua con nuôi | Việc nhận con nuôi phải hoàn tất trước khi người con nuôi 16 tuổi, kèm điều kiện sống cùng và nuôi dưỡng theo luật Mỹ | Quyết định nuôi con nuôi, giấy khai sinh |
Người được bảo lãnh không cần độc thân hay dưới một độ tuổi nào. Tình trạng hôn nhân của người được bảo lãnh chỉ quyết định ai được đi kèm.
Các quy định chi tiết về con ngoài giá thú, con kế và con nuôi khá kỹ thuật. Nếu hồ sơ thuộc một trong ba loại này, đọc phần hướng dẫn của mẫu I-130 trên uscis.gov hoặc hỏi luật sư di trú trước khi nộp.
Chứng minh quan hệ: chỗ hồ sơ F4 người Việt hay vướng
Giấy khai sinh cấp lại khác giấy gốc. Nhiều người sinh trước những năm 1990 chỉ còn bản trích lục cấp lại, có khi ghi khác tên cha mẹ, khác năm sinh so với giấy tờ khác. Viên chức sẽ hỏi vì sao. Chuẩn bị giải trình và giấy tờ phụ (sổ hộ khẩu cũ, học bạ, giấy tờ của cha mẹ) trước khi bị hỏi.
Khai sinh muộn. Giấy khai sinh đăng ký muộn nhiều năm sau khi sinh được coi là bằng chứng yếu hơn. Nên kèm bằng chứng phụ có từ sớm cho thấy quan hệ cha mẹ con.
Tên cha mẹ ghi không thống nhất. Tên có dấu, tên gọi ở nhà, tên thường gọi khác tên khai sinh là chuyện phổ biến. Lập một bảng đối chiếu tên của cha mẹ trên từng giấy tờ của cả hai anh chị em, và kèm giấy tờ giải thích khi cần.
Bị yêu cầu xét nghiệm ADN. Khi giấy tờ không đủ thuyết phục, Lãnh sự quán có thể đề nghị xét nghiệm ADN tự nguyện qua phòng xét nghiệm được công nhận theo quy trình chỉ định. Xét nghiệm anh chị em khó kết luận hơn cha mẹ con, nên đôi khi cần lấy mẫu của cha hoặc mẹ còn sống.
Người bảo lãnh đã đổi tên ở Mỹ. Kèm giấy tờ đổi tên hoặc giấy nhập tịch ghi tên mới, để nối được tên trên giấy khai sinh Việt Nam với tên trên hộ chiếu Mỹ.
Quy trình hồ sơ F4 từ đầu tới cuối
Hồ sơ F4 đi theo quy trình chung của diện ưu tiên gia đình, nhưng mỗi bước có lưu ý riêng do thời gian chờ dài:
- Người bảo lãnh nộp đơn I-130 cho USCIS, kèm bằng chứng quốc tịch Mỹ và giấy tờ chứng minh cha mẹ chung. Ngày USCIS nhận đơn là ngày ưu tiên; giữ thông báo I-797C cẩn thận suốt nhiều năm.
- USCIS xét và duyệt đơn. Với F4, đơn có thể nằm lâu ở USCIS vì không có lý do xét sớm; trong lúc đó gia đình không cần làm gì ngoài cập nhật địa chỉ.
- Hồ sơ chuyển sang NVC. NVC tạo hồ sơ, gửi thư chào mừng, và khi ngày ưu tiên tới gần sẽ mời trả phí, nộp giấy tờ hộ tịch, lý lịch tư pháp, DS-260 cho từng người và bộ bảo trợ tài chính.
- Người bảo lãnh nộp I-864. Nếu thu nhập không đạt mức tối thiểu theo quy định (125% chuẩn nghèo liên bang cho quy mô hộ tương ứng), cần thêm người đồng bảo trợ đủ điều kiện.
- NVC xác nhận hồ sơ đủ, chờ ngày ưu tiên tới lượt theo bảng Final Action Dates, rồi xếp lịch phỏng vấn tại Lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM.
- Cả gia đình khám sức khoẻ tại phòng khám được chỉ định, phỏng vấn, nhận visa, trả phí USCIS Immigrant Fee và nhập cảnh trong thời hạn visa.
Mọi thành viên đi kèm đều phải có mặt ở buổi phỏng vấn, kể cả trẻ em. Người đi kèm chỉ được cấp visa khi người được bảo lãnh chính được cấp, và thường phải nhập cảnh cùng hoặc sau người chính.
Bảo trợ tài chính khi người bảo lãnh đã lớn tuổi
Một hồ sơ F4 nộp khi người bảo lãnh 45 tuổi có thể tới lượt khi họ đã ngoài 60. Lúc đó thu nhập thường giảm vì nghỉ hưu, nhưng nghĩa vụ ký I-864 vẫn thuộc về họ. Bản I-864 là cam kết có giá trị pháp lý: người bảo lãnh cam kết duy trì thu nhập cho người nhập cư ở mức tối thiểu theo luật, và nghĩa vụ này kéo dài tới khi người nhập cư nhập tịch, có đủ 40 quý làm việc theo quy định, rời Mỹ vĩnh viễn hoặc qua đời.
Khi thu nhập của người bảo lãnh không đủ, có ba cách thường dùng: tính thêm thu nhập của người cùng hộ ký mẫu I-864A; dùng tài sản (theo hệ số quy định); hoặc nhờ một người đồng bảo trợ là công dân hoặc thường trú nhân Mỹ, đang sống ở Mỹ, tự đủ thu nhập theo quy mô hộ của chính họ cộng thêm số người được bảo trợ.
Người đồng bảo trợ chịu trách nhiệm tài chính như người bảo lãnh chính. Gia đình nên nói rõ điều này với họ thay vì coi chữ ký là thủ tục. Nhờ người lạ đứng tên đồng bảo trợ để lấy tiền là một dạng trục lợi có rủi ro cho cả hai bên; giấy tờ thuế khai không đúng sự thật có thể dẫn tới từ chối và hậu quả pháp lý.
Ngưỡng thu nhập theo chuẩn nghèo liên bang được cập nhật hằng năm trong mẫu I-864P trên uscis.gov. Kiểm bảng của năm bạn nộp.
Một hồ sơ F4 điển hình đi qua thời gian
Ví dụ giả định: chị Lan là công dân Mỹ ở Texas, nộp I-130 bảo lãnh em trai là anh Minh ở Cần Thơ khi anh 38 tuổi, có vợ và hai con 6 tuổi, 10 tuổi. Lúc nộp, hồ sơ có bốn người. Nhiều năm sau, khi ngày ưu tiên tới gần, đứa lớn đã 24 tuổi; dù được trừ thời gian đơn nằm ở USCIS theo luật CSPA, tuổi tính theo CSPA vẫn quá 21 nên rơi khỏi hồ sơ. Đứa nhỏ 20 tuổi, chưa lập gia đình, còn đi được. Gia đình còn có thêm một bé sinh trong lúc chờ, được thêm vào hồ sơ ở giai đoạn NVC.
Cùng lúc, chị Lan đã nghỉ hưu, thu nhập chỉ còn lương hưu. Gia đình phải tìm một người đồng bảo trợ là con của chị Lan đang đi làm ở Mỹ. Giấy khai sinh của anh Minh cấp lại năm 2000 ghi tên mẹ khác một chữ so với giấy khai sinh của chị Lan; gia đình phải bổ sung giấy tờ cũ của mẹ để giải thích.
Ví dụ này không nhằm doạ, mà để cho thấy những việc cần lường trước từ ngày nộp đơn: tuổi của từng đứa con, khả năng tài chính của người bảo lãnh nhiều năm sau, và độ thống nhất giấy tờ của hai anh chị em. Đứa con lớn rơi khỏi hồ sơ không mất hẳn đường đi Mỹ: sau khi anh Minh có thẻ xanh, anh có thể bảo lãnh con theo diện F2B, nhưng phải bắt đầu một hàng chờ mới.
Những tình huống làm hồ sơ F4 dừng giữa đường
Người bảo lãnh qua đời. Về nguyên tắc, đơn I-130 đã duyệt bị thu hồi tự động. Có hai lối ra: điều 204(l) của INA cho phép tiếp tục nếu người được bảo lãnh (hoặc người đi kèm) đang sống ở Mỹ vào lúc người bảo lãnh mất và vẫn tiếp tục sống ở đó; với người ở Việt Nam, cách thường dùng là xin khôi phục vì lý do nhân đạo (humanitarian reinstatement), do USCIS quyết định tuỳ nghi và cần người bảo trợ thay thế. Cả hai cần hỏi luật sư.
Người bảo lãnh từ bỏ quốc tịch Mỹ. Đơn F4 dựa trên tư cách công dân; mất tư cách đó thì đơn không còn cơ sở.
Con đi kèm quá 21 tuổi. Luật CSPA chỉ trừ được thời gian đơn I-130 nằm ở USCIS. Con quá tuổi CSPA rơi khỏi hồ sơ, và theo phán quyết năm 2014 của Toà án Tối cao Mỹ, không được giữ ngày ưu tiên cũ khi cha mẹ bảo lãnh lại.
Con đi kèm lập gia đình. Con đã lập gia đình không còn là người đi kèm, bất kể tuổi.
Người được bảo lãnh ly hôn hoặc tái hôn. Không làm mất tư cách F4 của người chính, nhưng thay đổi người đi kèm: vợ hoặc chồng mới (kết hôn thật trước khi nhập cảnh) được đi kèm; vợ hoặc chồng cũ thì không.
Không phản hồi NVC. Bỏ qua thư của NVC trong một năm sau khi visa sẵn có có thể dẫn tới chấm dứt đăng ký theo điều 203(g) của INA.
F4 khác các diện bảo lãnh gia đình khác ở đâu
So với diện cha mẹ (IR5) hay vợ chồng công dân (IR1, CR1), F4 không thuộc nhóm thân nhân trực hệ nên có hàng chờ. So với F3 (con đã lập gia đình), F4 có hạn ngạch năm lớn hơn theo luật, khoảng 65.000 visa, nhưng nhu cầu toàn cầu còn lớn hơn nhiều, nên hàng chờ của F4 thường dài nhất trong các diện gia đình.
Một điểm thực tế: nhiều gia đình Việt Nam có cả hai lựa chọn. Ví dụ một người em đã có quốc tịch Mỹ, và cha mẹ cũng đã sang Mỹ và nhập tịch. Khi đó, nếu người anh ở Việt Nam là con chưa lập gia đình trên 21 tuổi, diện F1 do cha mẹ bảo lãnh thường nhanh hơn F4 do em bảo lãnh. Nếu đã lập gia đình thì là F3. Không có luật cấm nộp song song nhiều đơn cho cùng một người theo các diện khác nhau; mỗi đơn chạy theo hàng chờ riêng, và người được bảo lãnh dùng đơn nào tới lượt trước.
Nộp song song tốn thêm phí I-130 và công giấy tờ, nên gia đình cần cân nhắc tuổi và sức khoẻ của từng người bảo lãnh. Quyết định này nên dựa trên Visa Bulletin hiện hành của từng diện chứ không dựa trên lời đồn diện nào "đang mở".
Câu hỏi thường gặp
Thường trú nhân có bảo lãnh anh chị em sang Mỹ được không?
Không. Diện F4 chỉ dành cho công dân Mỹ từ 21 tuổi trở lên. Người có thẻ xanh muốn bảo lãnh anh chị em phải nhập tịch trước rồi mới nộp đơn I-130.
Anh chị em họ, anh chị em dâu rể có thuộc diện F4 không?
Không. F4 chỉ áp dụng cho anh chị em có chung ít nhất một cha hoặc một mẹ, kể cả anh chị em kế và qua con nuôi nếu đủ điều kiện. Anh chị em họ, vợ chồng của anh chị em không được bảo lãnh trực tiếp, chỉ đi kèm nếu là vợ chồng của người chính.
Người được bảo lãnh F4 đã ngoài 50 tuổi có được đi không?
Được. Diện F4 không giới hạn tuổi người được bảo lãnh, kể cả khi tới lượt lúc đã ngoài 60. Chỉ con đi kèm mới bị giới hạn dưới 21 tuổi và chưa lập gia đình, có xét đến luật CSPA. Người lớn tuổi cần chuẩn bị kỹ phần khám sức khoẻ và tiêm chủng.
Con của người được bảo lãnh sinh sau khi nộp đơn có được đi kèm không?
Được, nếu còn dưới 21 tuổi và chưa lập gia đình khi nhập cảnh. Con được thêm vào hồ sơ ở giai đoạn NVC bằng giấy khai sinh và DS-260 riêng.
Người bảo lãnh không đủ thu nhập thì hồ sơ F4 có bị từ chối không?
Không đủ thu nhập một mình không làm hồ sơ bị từ chối nếu có người đồng bảo trợ đủ điều kiện, hoặc dùng thêm thu nhập người cùng hộ hay tài sản theo quy định. Thiếu cả ba thì có thể bị từ chối vì lý do gánh nặng xã hội.
Đã nộp F4 mà cha mẹ cũng là công dân Mỹ thì có nên nộp thêm diện khác?
Nếu cha mẹ là công dân Mỹ, họ có thể bảo lãnh con theo F1 hoặc F3 tuỳ tình trạng hôn nhân. Hai đơn chạy song song và độc lập. So hàng chờ của từng diện trong Visa Bulletin trước khi quyết định.