Luật Mỹ cho con nuôi định cư theo ba con đường, và đường nào áp dụng phụ thuộc cách nhận nuôi chứ không phụ thuộc giấy quyết định nuôi con nuôi. Diện IR2 dành cho con nuôi được nhận trước 16 tuổi và đã sống cùng cha hoặc mẹ nuôi, dưới sự giám hộ hợp pháp của họ, ít nhất hai năm. Diện IR3/IR4 dành cho trẻ đủ định nghĩa "mồ côi" theo luật Mỹ, nhận từ nước chưa tham gia Công ước La Hay về nuôi con nuôi. Diện IH3/IH4 dành cho trẻ được nhận theo thủ tục của Công ước La Hay.
Việt Nam là thành viên Công ước La Hay từ năm 2012, nên công dân Mỹ thường trú tại Mỹ nhận trẻ từ Việt Nam về cơ bản phải đi đường IH3/IH4, qua cơ quan trung ương của hai nước. Hiểu nhầm phổ biến nhất của các gia đình Việt là nghĩ chỉ cần làm thủ tục nhận cháu làm con nuôi ở Việt Nam rồi bảo lãnh như con đẻ. Bài này giải thích vì sao cách đó thường không thành, điều kiện của từng đường, và những gì cần kiểm trước khi bắt đầu.
Ba con đường và điều kiện cốt lõi
Bảng tóm tắt các điểm khác nhau quan trọng nhất. Mỗi đường có đơn riêng, cơ quan xét riêng, và không đổi qua lại tuỳ ý.
| Con đường | Trẻ phải đáp ứng | Cha mẹ nuôi phải đáp ứng | Đơn chính |
|---|---|---|---|
| IR2 — con nuôi đã sống cùng | Được nhận nuôi trước 16 tuổi (18 nếu là anh chị em ruột của trẻ đã được cùng cha mẹ nhận nuôi); hai năm dưới giám hộ hợp pháp và hai năm sống chung | Là công dân Mỹ hoặc thường trú nhân (khi đó là F2A hoặc F2B); thực sự sống cùng trẻ | I-130 |
| IR3/IR4 — trẻ mồ côi | Đủ định nghĩa mồ côi: cha mẹ đều mất, mất tích, bỏ rơi; hoặc chỉ còn một cha hoặc mẹ không thể chăm sóc và đồng ý cho đi vĩnh viễn | Công dân Mỹ; đánh giá gia đình (home study) | I-600A, I-600 |
| IH3/IH4 — Công ước La Hay | Đủ định nghĩa trẻ được nhận nuôi theo Công ước; cha mẹ đẻ hoặc người có thẩm quyền đồng ý tự nguyện, không vì tiền; cơ quan trung ương nước gốc xác định trẻ cần nuôi con nuôi quốc tế | Công dân Mỹ thường trú tại Mỹ; home study; được USCIS xác định phù hợp | I-800A, I-800 |
Chữ số 3 và 4 phân biệt việc nhận nuôi đã hoàn tất ở nước ngoài (3) hay sẽ hoàn tất tại Mỹ (4). Sự khác biệt này quyết định thời điểm trẻ có quốc tịch Mỹ, được nói ở phần sau.
Danh sách nước thành viên Công ước, tình trạng hợp tác nhận con nuôi với từng nước và các tổ chức được phép làm dịch vụ nằm trên trang Intercountry Adoption của travel.state.gov.
Vì sao nhận cháu làm con nuôi thường không dẫn tới định cư
Trong cộng đồng người Việt, mô hình hay gặp là cô, chú, dì, cậu ở Mỹ muốn đưa cháu sang học và sinh sống, nên làm thủ tục nhận cháu làm con nuôi. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 của Việt Nam có cho phép người nhận nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác ruột được nhận đích danh trong thủ tục nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nhưng việc được Việt Nam công nhận chưa đủ để được Mỹ cấp visa.
Nếu đi theo IR2, luật Mỹ đòi hai năm giám hộ hợp pháp và hai năm sống chung thật sự giữa trẻ và cha mẹ nuôi. Người cô sống ở California còn cháu ở Cần Thơ thì không có sống chung, dù giấy nhận nuôi có đóng dấu đầy đủ. Muốn đáp ứng, cha mẹ nuôi phải về sống cùng trẻ đủ thời gian, điều mà ít gia đình làm được.
Nếu đi theo IH3/IH4, thủ tục phải bắt đầu từ phía Mỹ với đơn I-800A, đi qua cơ quan trung ương của hai nước, và trẻ phải đủ định nghĩa trẻ được nhận nuôi theo Công ước. Với trẻ còn cả cha lẫn mẹ đẻ, điều kiện là cha mẹ đẻ không có khả năng chăm sóc phù hợp theo tiêu chuẩn của nước gốc, không chỉ là gia đình muốn con có tương lai tốt hơn. Việc nhận nuôi đã làm xong ở Việt Nam trước khi có I-800A thường không được chấp nhận cho đường này.
Cuối cùng, cơ quan Mỹ xem xét mục đích: nhận nuôi chủ yếu để trẻ có quyền định cư mà không có quan hệ cha mẹ và con thật là căn cứ từ chối.
Đường IR2: điều kiện hai năm được tính thế nào
Hai điều kiện thời gian của IR2 là riêng biệt và đều phải đủ trước khi nộp hoặc được xét. Giám hộ hợp pháp (legal custody) thường tính từ ngày có quyết định giao nhận con nuôi hoặc quyết định giám hộ của cơ quan có thẩm quyền; trong một số trường hợp, thời gian giám hộ trước khi hoàn tất nhận nuôi cũng được tính nếu có văn bản. Sống chung (joint residence) là cha hoặc mẹ nuôi sống cùng nhà với trẻ, trong vai trò cha mẹ; thăm nom định kỳ, gửi tiền, gọi điện không thay được.
Hai năm này có thể diễn ra ở bất kỳ đâu, kể cả tại Việt Nam. Ví dụ giả định: một công dân Mỹ làm việc ở TP.HCM bốn năm, nhận nuôi con của người em năm trẻ 9 tuổi và sống cùng trẻ ba năm sau đó. Khi về Mỹ, người này có thể nộp I-130 cho trẻ theo IR2, kèm quyết định nuôi con nuôi, giấy tờ chứng minh sống chung như hợp đồng thuê nhà, học bạ ghi địa chỉ, giấy xác nhận cư trú.
Trẻ phải được nhận nuôi trước 16 tuổi; mốc này tính theo ngày quyết định nhận nuôi có hiệu lực. Đơn I-130 có thể nộp sau đó, nhưng diện IR2 với vai trò con của công dân chỉ áp dụng khi trẻ còn dưới 21 tuổi và chưa lập gia đình. Với con nuôi của thường trú nhân, diện là F2A hoặc F2B và phải chờ hạn ngạch.
Đường Công ước La Hay (IH3/IH4) từng bước
Đây là con đường chính cho gia đình ở Mỹ nhận nuôi trẻ từ Việt Nam. Trình tự rút gọn như sau; thời gian mỗi bước phụ thuộc cơ quan hai nước.
- Chọn một tổ chức làm dịch vụ nuôi con nuôi được Mỹ công nhận theo Công ước (accredited adoption service provider) và được phép hoạt động với Việt Nam.
- Làm đánh giá gia đình (home study) theo tiêu chuẩn của Công ước và luật tiểu bang.
- Nộp đơn I-800A để USCIS xác định gia đình phù hợp và đủ điều kiện nhận nuôi quốc tế.
- Hồ sơ được chuyển sang cơ quan trung ương của Việt Nam (Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp). Phía Việt Nam giới thiệu trẻ phù hợp hoặc xem xét trường hợp nhận đích danh.
- Nộp đơn I-800 cho từng trẻ để USCIS xét tạm thời trẻ có đủ điều kiện nhập cư.
- Lãnh sự quán Mỹ xem xét và gửi văn bản cho phía Việt Nam xác nhận trẻ có thể được cấp visa (thư theo Điều 5 Công ước); sau đó Việt Nam ra quyết định cho nhận nuôi.
- Nộp đơn xin visa cho trẻ, phỏng vấn tại Lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM, nhận visa IH3 hoặc IH4, đưa trẻ sang Mỹ.
Hợp tác nhận con nuôi giữa Mỹ và Việt Nam từng bị gián đoạn khoảng năm 2008 và sau đó được nối lại có giới hạn, thường tập trung vào trẻ có nhu cầu đặc biệt, trẻ lớn tuổi hoặc nhóm anh chị em ruột. Phạm vi hiện hành cần kiểm trên trang thông tin quốc gia Việt Nam mục Intercountry Adoption của travel.state.gov trước khi bỏ chi phí.
Năm câu hỏi tự kiểm trước khi bắt đầu
Trước khi bỏ chi phí cho đánh giá gia đình hay dịch vụ, gia đình nên trả lời thẳng năm câu dưới đây. Mỗi câu trả lời "không" là một tín hiệu cần dừng lại tìm hiểu thêm.
- Người nhận nuôi là công dân Mỹ hay thường trú nhân, đang sống ở đâu? Công dân sống ở Mỹ nhận trẻ từ Việt Nam đi đường Công ước; thường trú nhân chỉ có đường IR2 tương ứng F2A, F2B với điều kiện sống chung hai năm.
- Trẻ có thật sự cần một gia đình thay thế không? Nếu cha mẹ đẻ vẫn chăm sóc được con và chỉ muốn con có cơ hội học tập ở Mỹ, đây không phải tình huống nuôi con nuôi quốc tế.
- Trẻ còn dưới 16 tuổi đủ xa mốc để kịp các bước không? Với đường Công ước, I-800 phải nộp trước 16 tuổi; thời gian chuẩn bị trước đó có thể kéo dài.
- Gia đình có sẵn sàng làm đánh giá gia đình, học các khoá bắt buộc và chịu sự theo dõi sau nhận nuôi không? Việt Nam và tiểu bang nơi cư trú có thể yêu cầu báo cáo tình hình trẻ trong nhiều năm.
- Có tổ chức được công nhận theo Công ước đang làm việc với Việt Nam không? Tra danh sách trên travel.state.gov trước khi ký bất kỳ hợp đồng nào.
Nếu cả năm câu đều có câu trả lời rõ, bước tiếp theo là liên hệ tổ chức được công nhận để được hướng dẫn hồ sơ chi tiết theo luật tiểu bang của gia đình.
Quốc tịch Mỹ của trẻ sau khi sang
Luật Quốc tịch Trẻ em năm 2000 cho phép trẻ dưới 18 tuổi tự động có quốc tịch Mỹ khi đồng thời đáp ứng ba điều: là thường trú nhân, có ít nhất một cha hoặc mẹ là công dân Mỹ, và đang sống ở Mỹ dưới sự giám hộ hợp pháp và thực tế của người cha hoặc mẹ đó. Với con nuôi, việc nhận nuôi phải đã hoàn tất đầy đủ.
Hệ quả theo từng loại visa: trẻ vào bằng IH3 hoặc IR3 (nhận nuôi đã hoàn tất ở nước ngoài, thường có cha mẹ nuôi đã gặp trẻ trước) thường có quốc tịch ngay khi nhập cảnh. Trẻ vào bằng IH4 hoặc IR4 chỉ có thẻ xanh lúc đầu; quốc tịch đến khi việc nhận nuôi được hoàn tất hoặc công nhận lại tại tiểu bang. Trẻ vào bằng IR2 có quốc tịch khi nhập cảnh nếu cha hoặc mẹ nuôi là công dân và trẻ còn dưới 18 tuổi.
Quốc tịch tự động không đi kèm giấy tờ tự động. Gia đình nên xin giấy chứng nhận quốc tịch qua đơn N-600 hoặc xin hộ chiếu Mỹ cho trẻ để có bằng chứng. Trẻ đã quá 18 tuổi mà chưa đủ ba điều kiện kịp thời sẽ phải tự nhập tịch như người trưởng thành; đây là lỗi hành chính từng khiến nhiều con nuôi ở Mỹ phát hiện mình không phải công dân khi đã lớn.
Rủi ro và những lời mời nên tránh
Nuôi con nuôi quốc tế là lĩnh vực có quy định chặt vì liên quan quyền trẻ em. Các dấu hiệu sau cho thấy một đề nghị không đi đúng đường.
- Đề nghị "làm giấy con nuôi" để đưa trẻ sang Mỹ học, trong khi cha mẹ đẻ vẫn nuôi được con và không có ý định giao con vĩnh viễn.
- Khoản tiền trả cho cha mẹ đẻ hoặc người trung gian để đổi lấy sự đồng ý. Công ước La Hay cấm lợi ích tài chính không chính đáng trong nuôi con nuôi.
- Hứa đi nhanh mà không cần đánh giá gia đình hoặc không qua cơ quan trung ương.
- Đề nghị khai trẻ là con đẻ, làm lại khai sinh ghi tên người nhận nuôi làm cha mẹ đẻ.
- Dịch vụ không nêu được tên tổ chức được công nhận theo Công ước mà mình làm việc cùng.
Các cách làm trên có thể dẫn tới bị từ chối visa vì gian dối, và trong trường hợp nghiêm trọng là vi phạm pháp luật về mua bán người ở cả hai nước. Nếu mục tiêu thật là cho cháu sang Mỹ học, đường đúng là visa du học F-1 với hồ sơ tài chính của gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Con nuôi có bảo lãnh được cha mẹ đẻ sang Mỹ sau này không?
Không. Luật Mỹ quy định con nuôi đã được hưởng quyền di trú qua quan hệ nhận nuôi thì không thể dùng quan hệ với cha mẹ đẻ để bảo lãnh họ, kể cả khi đã thành công dân. Anh chị em ruột của con nuôi cũng không được bảo lãnh qua quan hệ đó.
Thường trú nhân có nhận con nuôi rồi bảo lãnh được không?
Được theo đường IR2 tương ứng diện F2A hoặc F2B, nếu đáp ứng điều kiện nhận nuôi trước 16 tuổi, hai năm giám hộ và sống chung. Đường IH3/IH4 và IR3/IR4 chỉ dành cho công dân Mỹ, nên thường trú nhân không dùng được cho trẻ chưa từng sống cùng mình.
Người độc thân có nhận con nuôi quốc tế được không?
Về phía Mỹ, công dân độc thân có thể nộp I-800A nếu từ 25 tuổi trở lên và đạt đánh giá gia đình. Phía Việt Nam có điều kiện riêng về người nhận nuôi, như chênh lệch tuổi với trẻ và hoàn cảnh gia đình. Cả hai bộ điều kiện đều phải đạt.
Trẻ từ 16 tuổi trở lên còn được nhận nuôi để định cư không?
Mốc chung là phải nhận nuôi trước 16 tuổi, hoặc với đường Công ước là nộp I-800 trước 16 tuổi. Ngoại lệ đến 18 tuổi áp dụng cho anh chị em ruột của trẻ đã được cùng cha mẹ đó nhận nuôi. Ngoài các mốc này, trẻ không còn đi theo diện con nuôi được.
Con riêng của vợ hoặc chồng có cần làm thủ tục nhận nuôi không?
Thường không cần. Con riêng được bảo lãnh theo quan hệ cha dượng hoặc mẹ kế nếu cuộc hôn nhân diễn ra trước khi trẻ đủ 18 tuổi. Nhận nuôi chính thức chỉ cần khi gia đình muốn xác lập quan hệ pháp lý đầy đủ hoặc khi trẻ đã quá mốc tuổi đó.
Thời gian nhận con nuôi từ Việt Nam sang Mỹ mất bao lâu?
Không có con số cố định. Tổng thời gian gồm đánh giá gia đình, xét I-800A, chờ giới thiệu trẻ phía Việt Nam, xét I-800, quyết định nhận nuôi và phỏng vấn visa, thường tính bằng năm. Tổ chức dịch vụ được công nhận có thể cho biết khoảng thời gian thực tế của các hồ sơ gần đây.