EB-3 là diện thẻ xanh theo việc làm, trong đó một chủ lao động ở Mỹ bảo lãnh người nước ngoài vào một vị trí toàn thời gian lâu dài. Điểm khiến nhiều gia đình Việt quan tâm là người lao động chính được mang theo vợ hoặc chồng và con độc thân dưới 21 tuổi; tất cả nhận thẻ xanh cùng lúc với người chính, không cần đơn bảo lãnh riêng.
Nhưng "cả gia đình" trong EB-3 có ranh giới rõ: cha mẹ của người lao động không đi kèm được, con đã 21 tuổi hoặc đã lập gia đình cũng không. Con sát tuổi 21 có thể được giữ lại nhờ cách tính tuổi của luật CSPA, và đây là chỗ nhiều gia đình tính sai.
Bài này tập trung vào phía gia đình: ai đi được, khi nào cả nhà phải góp mặt trong hồ sơ, quyền lợi của vợ con sau khi sang, chi phí tính theo đầu người và các rủi ro chung. Điều kiện chi tiết của từng nhánh nghề, mức lương quy định hay thời gian chờ hiện hành cần kiểm lại trên uscis.gov, travel.state.gov và trang của Bộ Lao động Mỹ (flag.dol.gov).
EB-3 gồm những nhánh nào
EB-3 là diện ưu tiên việc làm thứ ba, chiếm khoảng 28,6% số visa việc làm hằng năm theo luật. Diện chia ba nhánh với điều kiện khác nhau, nhưng quyền mang theo gia đình giống nhau.
| Nhánh | Điều kiện người chính | Ghi chú |
|---|---|---|
| Lao động có tay nghề (Skilled Workers) | Vị trí đòi ít nhất 2 năm kinh nghiệm hoặc đào tạo | Thợ kỹ thuật, đầu bếp, điều dưỡng một số dạng… |
| Chuyên gia (Professionals) | Bằng cử nhân Mỹ hoặc tương đương nước ngoài, vị trí đòi bằng đó | Kế toán, kỹ sư, giáo viên… |
| Lao động khác (Other Workers, hay gọi EW3) | Vị trí đòi dưới 2 năm kinh nghiệm | Chế biến thực phẩm, khách sạn, chăm sóc… Hạn ngạch riêng tối đa 10.000 visa mỗi năm nên hàng chờ có thể khác hai nhánh kia |
Với cả ba nhánh, chủ lao động thường phải hoàn tất thủ tục chứng nhận lao động (PERM) với Bộ Lao động Mỹ trước, rồi mới nộp đơn I-140 lên USCIS. Ngày nộp PERM trở thành ngày ưu tiên của hồ sơ, và đó cũng là ngày ưu tiên của cả gia đình đi kèm.
Ai trong gia đình được đi kèm
Vợ hoặc chồng hợp pháp. Hôn nhân phải tồn tại vào lúc người chính được cấp visa hay thẻ xanh. Cưới sau khi người chính đã thành thường trú nhân thì người phối ngẫu mới không còn là người đi kèm, mà phải được bảo lãnh theo diện F2A, có hàng chờ riêng. Gia đình định cưới nên cưới trước khi người chính nhận visa.
Con độc thân dưới 21 tuổi. Gồm con đẻ, con riêng (hôn nhân tạo ra quan hệ cha mẹ kế diễn ra trước khi con 18 tuổi) và con nuôi đủ điều kiện luật. Con sinh ra trong thời gian chờ cũng được thêm vào hồ sơ.
Con đã lập gia đình hoặc đã quá tuổi. Không đi kèm được. Con 21 tuổi trở lên mà CSPA không cứu được thì phải chờ người chính có thẻ xanh rồi bảo lãnh theo F2B, hoặc chờ người chính nhập tịch rồi bảo lãnh theo F1 hay F3.
Cha mẹ của người lao động. Không có tư cách đi kèm trong bất kỳ diện việc làm nào. Muốn đưa cha mẹ sang, người lao động phải nhập tịch Mỹ trước, thường sau năm năm làm thường trú nhân, rồi bảo lãnh diện IR5.
Người đi kèm không cần có nghề. Vợ chồng và con không phải chứng minh kinh nghiệm, học vấn hay tiếng Anh. Họ chỉ cần chứng minh quan hệ và không rơi vào lý do bị cấm nhập cảnh (sức khoẻ, tiền án, gian dối trước đây…).
Con sắp 21 tuổi: cách luật CSPA tính tuổi
Với diện việc làm, tuổi của con được "đóng băng" một phần theo công thức của Luật Bảo vệ Tình trạng Trẻ em (CSPA): lấy tuổi của con vào ngày visa có sẵn, trừ đi số ngày đơn I-140 nằm chờ ở USCIS (từ ngày nộp tới ngày chấp thuận). Nếu kết quả dưới 21, con vẫn được tính là người đi kèm, với điều kiện gia đình "tìm cách nhận" visa (thường là nộp DS-260) trong vòng một năm từ khi visa có sẵn.
Ví dụ giả định: con sinh ngày 1/6/2004. Đơn I-140 nộp ngày 1/2/2023, được chấp thuận ngày 1/12/2023, tức nằm chờ 10 tháng. Ngày visa có sẵn (ngày ưu tiên tới lượt và I-140 đã được chấp thuận) là 1/9/2025, lúc con 21 tuổi 3 tháng. Trừ 10 tháng, tuổi CSPA còn 20 tuổi 5 tháng, con vẫn đi kèm được nếu nộp DS-260 trước 1/9/2026.
Hai lưu ý từ ví dụ trên. Thứ nhất, thời gian PERM không được trừ, chỉ thời gian I-140 chờ ở USCIS mới được trừ; I-140 được xét nhanh (ví dụ qua dịch vụ xử lý nhanh có trả phí) thì phần trừ nhỏ đi. Thứ hai, cách xác định "ngày visa có sẵn" phụ thuộc vào bảng nào của bản tin thị thực được áp dụng và đã đổi theo chính sách của USCIS vài lần. Gia đình có con sát tuổi nên nhờ người có chuyên môn tính trên mốc thật, và nộp DS-260 ngay khi được mời.
Cả gia đình góp mặt ở chặng nào
Không phải chặng nào cũng cần vợ con. Biết trước giúp gia đình chuẩn bị giấy tờ đúng lúc, tránh làm sớm để rồi hết hạn.
- PERM: chỉ có chủ lao động và người lao động chính. Chủ lao động xin mức lương hiện hành, tuyển dụng thử trên thị trường Mỹ, chứng minh không có người lao động Mỹ phù hợp, rồi nộp đơn chứng nhận.
- I-140: chủ lao động nộp lên USCIS, chứng minh khả năng trả lương và trình độ của người chính. Vợ con chưa xuất hiện trong đơn.
- Chờ ngày ưu tiên: theo bản tin thị thực hằng tháng, cột chung cho người sinh ở Việt Nam. Trong lúc chờ, gia đình nên bắt đầu gom giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy chấm dứt hôn nhân cũ nếu có.
- NVC: mỗi người trong gia đình có một đơn DS-260 và một khoản phí xử lý riêng. Giấy hộ tịch, lý lịch tư pháp (theo độ tuổi quy định), hộ chiếu của từng người được nộp ở bước này.
- Khám sức khoẻ và phỏng vấn: từng người khám tại phòng khám được Lãnh sự quán chỉ định; cả nhà thường được phỏng vấn cùng buổi tại TP.HCM.
- Đi sau (follow-to-join): người đi kèm chưa kịp đi cùng có thể đi sau, miễn quan hệ đã có từ trước khi người chính nhận thẻ xanh.
Nếu người lao động chính đang ở Mỹ hợp pháp, cả nhà có thể nhận thẻ xanh bằng thủ tục điều chỉnh tình trạng tại Mỹ (I-485) thay vì phỏng vấn ở Việt Nam; người đi kèm ở Việt Nam thì vẫn đi đường lãnh sự.
Sang Mỹ rồi: vợ con có những quyền gì
Người đi kèm nhận thẻ xanh đầy đủ, không phải thẻ phụ thuộc. Vợ hoặc chồng được làm bất kỳ việc gì, cho bất kỳ chủ nào, không cần giấy phép lao động riêng. Con được đi học trường công lập miễn học phí từ mẫu giáo tới hết lớp 12 như trẻ em thường trú khác. Lên đại học, con thường được xét học phí cư dân tiểu bang theo quy định của từng bang về thời gian cư trú.
Người lao động chính thì có nghĩa vụ ngầm: hồ sơ dựa trên lời mời làm việc lâu dài, nên người chính phải thực sự có ý định nhận và làm vị trí đó khi sang. Luật không ghi một số tháng tối thiểu phải làm, nhưng bỏ việc ngay khi đặt chân xuống có thể bị coi là gian dối từ đầu, ảnh hưởng tới đơn nhập tịch sau này. Nếu sau một thời gian làm thật mà công việc không hợp, chuyển việc là quyền của thường trú nhân.
Thẻ xanh EB-3 không có điều kiện hai năm như EB-5 hay hôn nhân mới. Sau năm năm thường trú (tính từ ngày ghi trên thẻ), người chính, vợ chồng và con đã đủ 18 tuổi đều có thể xin nhập tịch riêng; con dưới 18 tuổi thường được nhận quốc tịch tự động khi cha hoặc mẹ nhập tịch và đang sống cùng.
Chi phí và rủi ro tính theo cả nhà
Chi phí PERM do chủ lao động chịu. Theo quy định của Bộ Lao động Mỹ, chi phí xin chứng nhận lao động và tuyển dụng thử không được chuyển sang cho người lao động, kể cả gián tiếp qua trung gian. Một lời mời đòi người Việt trả tiền "phí PERM" là dấu hiệu cần dừng lại hỏi kỹ.
Phí nhà nước nhân theo đầu người. Mỗi người trong gia đình trả một phí xử lý đơn DS-260 (biểu phí Bộ Ngoại giao Mỹ áp dụng từ 2023 là khoảng 345 USD cho diện việc làm) và một phí USCIS Immigrant Fee sau khi có visa (khoảng 235 USD theo biểu phí từ 4/2024), cộng khám sức khoẻ, hộ chiếu. Gia đình năm người trả gấp năm. Kiểm lại mức hiện hành trước khi nộp.
Rủi ro chủ lao động. Chủ đóng cửa, bán doanh nghiệp hay rút lời mời trước khi I-140 được duyệt có thể làm hồ sơ phải làm lại. Khi I-140 đã được duyệt, ngày ưu tiên thường được giữ cho hồ sơ mới với chủ khác, trừ khi bị thu hồi vì gian dối hay sai sót.
Rủi ro hàng chờ. Diện EB-3, đặc biệt nhánh lao động khác, có thể bị lùi ngày trong bản tin. Con đang 17–18 tuổi lúc nộp có thể quá tuổi khi tới lượt nếu CSPA không đủ bù.
Rủi ro lừa đảo. Các gói "bán suất EB-3" kèm cam kết thời gian, bảo đảm đậu hay hoàn tiền, hoặc yêu cầu đóng tiền vào tài khoản cá nhân, là kịch bản lừa đảo lặp đi lặp lại. Hãy kiểm tên chủ lao động có thật ở Mỹ và hỏi số hồ sơ PERM để tự tra trên hệ thống công khai của Bộ Lao động Mỹ.
Câu hỏi gia đình nên đặt trước khi ký
Trước khi quyết định theo EB-3 cho cả nhà, gia đình nên có câu trả lời bằng văn bản cho những câu hỏi sau:
- Vị trí là gì, ở bang nào, mức lương bao nhiêu, ca làm thế nào; vợ chồng con cái sẽ sống ở đâu gần chỗ làm.
- Nhánh nào (tay nghề, chuyên gia hay lao động khác); hàng chờ hiện tại của nhánh đó theo bản tin thị thực tháng gần nhất.
- Ai trả chi phí PERM, chi phí luật sư của chủ lao động; khoản nào gia đình phải trả và trả cho ai.
- Con lớn nhất bao nhiêu tuổi, đã tính tuổi CSPA với kịch bản I-140 xét nhanh và chậm chưa.
- Nếu chủ lao động rút lời mời giữa chừng, khoản tiền nào gia đình đã trả được hoàn và ai chịu trách nhiệm.
- Người chính có đủ sức khoẻ và kỹ năng làm vị trí đó lâu dài không, vì cả nhà sẽ sống dựa trên công việc này những năm đầu.
Câu trả lời mơ hồ ở bất kỳ câu nào là lý do để chậm lại. Với EB-3, chỗ làm thật và người chủ thật quan trọng hơn mọi lời hứa về thời gian.
Câu hỏi thường gặp
Vợ chồng chưa đăng ký kết hôn thì có đi kèm EB-3 được không?
Không. Chỉ vợ hoặc chồng có hôn nhân hợp pháp mới là người đi kèm. Nếu hai người đăng ký kết hôn trước khi người chính được cấp visa, người phối ngẫu được thêm vào hồ sơ. Cưới sau khi người chính đã có thẻ xanh thì phải bảo lãnh theo diện F2A, chờ riêng.
Con của người lao động sinh ra sau khi nộp PERM có được đi kèm không?
Được. Con sinh ra trước khi người chính nhận visa hay thẻ xanh là người đi kèm, chỉ cần bổ sung giấy khai sinh và đơn DS-260 cho trẻ. Con sinh ra ở Mỹ sau khi gia đình đã sang thì là công dân Mỹ theo nơi sinh.
Vợ của người lao động EB-3 có phải làm cùng chủ không?
Không. Người đi kèm nhận thẻ xanh đầy đủ nên được làm cho bất kỳ chủ nào, hoặc tự kinh doanh, hoặc đi học. Chỉ người lao động chính có ràng buộc với vị trí trong hồ sơ, ở mức phải thật sự có ý định nhận việc đó.
Cha mẹ có được ghi tên trong hồ sơ EB-3 của con không?
Không. Diện việc làm chỉ cho vợ chồng và con độc thân dưới 21 tuổi đi kèm. Cha mẹ có thể sang sau qua diện IR5 khi người con đã nhập tịch Mỹ và từ 21 tuổi, thường sớm nhất khoảng năm năm sau khi nhận thẻ xanh.
Nếu người lao động chính mất việc trước khi cả nhà nhập cảnh thì sao?
Nếu lời mời việc không còn trước khi visa được cấp, hồ sơ dựa trên vị trí đó thường không đi tiếp được, và người đi kèm cũng dừng theo. Nếu I-140 đã được duyệt, có thể giữ ngày ưu tiên cho một hồ sơ mới với chủ lao động khác, nhưng phải làm lại PERM và I-140.
Diện EB-3 lao động phổ thông có khác về quyền mang gia đình không?
Không khác. Nhánh lao động khác (EW3) cho người đi kèm y như nhánh tay nghề và chuyên gia. Khác biệt nằm ở hạn ngạch riêng của nhánh này, nên thời gian chờ có thể dài hơn, và điều đó tác động lớn tới con sát tuổi 21.