Khác biệt lớn nhất giữa hệ thống y tế các nước định cư nằm ở chỗ ai trả tiền: Mỹ chủ yếu dựa vào bảo hiểm qua chủ lao động hoặc tự mua; Canada, Úc, New Zealand có bảo hiểm công cho công dân và thường trú nhân; Anh có NHS do thuế tài trợ; Đức và nhiều nước Tây Âu bắt buộc mọi người tham gia bảo hiểm. Từ khác biệt này kéo theo mọi thứ khác: chi phí hằng tháng, khoản tự trả khi ốm, và người mới sang bao giờ được hưởng.
Với người Việt định cư, câu hỏi y tế thường quan trọng nhất ở hai nhóm: cha mẹ lớn tuổi được bảo lãnh, và thành viên có bệnh mãn tính. Bài này so sánh các hệ thống theo đúng những câu hỏi đó, kèm cách yêu cầu sức khoẻ trong hồ sơ di trú vận hành, để bạn tính trước thay vì phát hiện khi đã đứng ở phòng cấp cứu.
Bốn mô hình, bốn cách trả tiền
Bảng tóm tắt cách vận hành ở mức nguyên lý. Quyền lợi cụ thể, mức đóng và danh mục được chi trả thay đổi theo năm và theo bang, tỉnh.
| Nước | Mô hình chính | Người mới thường trú | Thường phải tự lo |
|---|---|---|---|
| Mỹ | Bảo hiểm tư qua chủ lao động hoặc tự mua trên sàn bảo hiểm; Medicare cho người từ 65 tuổi, Medicaid cho người thu nhập thấp theo điều kiện | Mua bảo hiểm qua chủ lao động hoặc sàn bảo hiểm; nhiều thường trú nhân phải chờ một thời gian mới đủ điều kiện Medicaid | Phí bảo hiểm, khoản khấu trừ, đồng chi trả |
| Canada | Bảo hiểm y tế công do từng tỉnh quản | Đăng ký với tỉnh; một số tỉnh có thời gian chờ ban đầu | Thuốc theo đơn ngoài bệnh viện, nha khoa, mắt (thường qua bảo hiểm chủ lao động) |
| Úc | Medicare công, cộng bảo hiểm tư tự nguyện | Thường trú nhân đăng ký Medicare | Một phần phí khám nếu bác sĩ thu cao hơn mức Medicare, nha khoa, phần lớn dịch vụ ở bệnh viện tư |
| New Zealand | Y tế công cho người đủ điều kiện | Công dân, thường trú; một số người có visa làm việc từ hai năm trở lên cũng đủ điều kiện | Một phần phí khám bác sĩ gia đình, nha khoa người lớn |
| Anh | NHS tài trợ bằng thuế | Người có visa thường đóng phụ phí y tế khi xin visa rồi được dùng NHS | Phí thuốc theo đơn ở England, nha khoa theo biểu phí |
| Đức | Bảo hiểm bắt buộc: quỹ công hoặc bảo hiểm tư | Phải có bảo hiểm ngay khi cư trú | Một số khoản đồng chi trả nhỏ |
Điểm chung của các nước có bảo hiểm công: quyền lợi gắn với tư cách cư trú, không gắn với việc bạn đã đóng thuế bao lâu. Điểm riêng của Mỹ: quyền lợi gắn chặt với việc làm và thu nhập, nên mất việc thường kéo theo nguy cơ mất bảo hiểm.
Mỹ: chất lượng cao, chi phí khó lường
Hệ thống y tế Mỹ có nhiều cơ sở hàng đầu thế giới, nhưng chi phí là nỗi lo thường trực của người mới sang. Phần lớn người đi làm có bảo hiểm qua chủ lao động; người không có thì mua trên sàn bảo hiểm theo Đạo luật Chăm sóc Sức khoẻ Hợp túi tiền (ACA), nơi thường trú nhân hợp pháp được mua và có thể được trợ cấp phí theo thu nhập. Mỗi gói bảo hiểm có mạng lưới bác sĩ, khoản khấu trừ, đồng chi trả khác nhau; chọn sai gói có thể khiến một lần nằm viện trở thành gánh nặng tài chính lớn.
Với cha mẹ lớn tuổi, có hai điểm cần biết trước khi bảo lãnh. Thứ nhất, Medicaid — chương trình cho người thu nhập thấp — nhìn chung có thời gian chờ nhiều năm với nhiều nhóm thường trú nhân mới. Thứ hai, Medicare dành cho người từ 65 tuổi; người có đủ thời gian đóng thuế (thường khoảng 40 quý làm việc) được miễn phí phần A, còn thường trú nhân từ 65 tuổi đã sống ở Mỹ liên tục năm năm có thể mua Medicare nhưng phải trả phí. Giai đoạn giữa lúc cha mẹ sang và lúc đủ điều kiện Medicare thường phải mua bảo hiểm trên sàn.
Ngoài ra, người bảo lãnh gia đình ký cam kết bảo trợ tài chính I-864, chịu trách nhiệm pháp lý về việc người được bảo lãnh không trở thành gánh nặng công. Chi phí y tế của cha mẹ là một phần thực tế của cam kết đó. Chi tiết kiểm medicare.gov, healthcare.gov và uscis.gov.
Canada và Úc: bảo hiểm công, nhưng không phải mọi thứ
Ở Canada, mỗi tỉnh vận hành chương trình bảo hiểm y tế riêng theo khung luật liên bang. Thường trú nhân đăng ký với tỉnh nơi sống và nhận thẻ y tế; khám bác sĩ gia đình, nằm viện, phẫu thuật cần thiết về y khoa không mất tiền tại chỗ. Một số tỉnh có thời gian chờ ban đầu, có tỉnh đã bỏ — kiểm trang y tế của tỉnh trước khi bay và mua bảo hiểm tư cho giai đoạn chờ nếu có. Những thứ thường không được chi trả cho người lớn: thuốc theo đơn ngoài bệnh viện, nha khoa, kính mắt — phần lớn người đi làm có thêm bảo hiểm qua chủ lao động. Thời gian chờ gặp bác sĩ chuyên khoa và phẫu thuật không khẩn cấp là điểm người dân hay phàn nàn.
Ở Úc, Medicare chi trả cho công dân, thường trú nhân và một số đối tượng khác; người dân đóng phí Medicare qua thuế thu nhập, khoảng 2% thu nhập chịu thuế theo quy định hiện hành của cơ quan thuế Úc. Nhiều gia đình mua thêm bảo hiểm tư để được chọn bác sĩ, vào bệnh viện tư và tránh hàng chờ; người thu nhập cao không có bảo hiểm tư có thể phải đóng thêm phụ phí. Người có visa tạm trú, gồm nhiều loại visa làm việc và visa cha mẹ tạm thời, thường phải tự mua bảo hiểm y tế tư theo điều kiện visa.
Ở cả hai nước, quyền lợi y tế công đi theo tư cách cư trú. Đó là lý do người có thường trú nhưng sống phần lớn thời gian ở Việt Nam có thể gặp rắc rối khi cần điều trị, vì một số tỉnh, bang đòi người hưởng phải thực sự cư trú.
Anh, New Zealand, Đức: ba biến thể khác
Ở Anh, NHS cung cấp phần lớn dịch vụ y tế không thu tiền tại chỗ, tài trợ bằng thuế. Người xin visa dài hạn thường phải đóng phụ phí y tế nhập cư (Immigration Health Surcharge) cùng lúc nộp đơn, sau đó dùng NHS gần như người dân. Ở England, thuốc theo đơn và nha khoa có biểu phí; Scotland, Wales có chính sách riêng. Hàng chờ cho điều trị không khẩn cấp là vấn đề thường được nhắc tới.
Ở New Zealand, y tế công dành cho công dân, thường trú nhân và một số người có visa làm việc dài hạn, thường là từ hai năm trở lên. Khám bác sĩ gia đình vẫn có phí, mức phí khác nhau giữa các phòng khám; nằm viện công không mất tiền với người đủ điều kiện. Tai nạn được chi trả qua hệ thống bồi thường tai nạn riêng (ACC), áp dụng cả với khách.
Ở Đức, ai cư trú cũng phải có bảo hiểm y tế. Phần lớn người đi làm tham gia quỹ bảo hiểm công theo luật định, đóng theo tỷ lệ lương chia giữa người lao động và chủ; người thu nhập vượt ngưỡng hoặc tự kinh doanh có thể chọn bảo hiểm tư. Vợ chồng, con không đi làm thường được bảo hiểm kèm trong quỹ công. Với người xin visa, chứng minh có bảo hiểm phù hợp là điều kiện bắt buộc.
Đưa y tế vào bài toán chọn nước: ba tình huống giả định
Ví dụ giả định để thấy cùng một hệ thống y tế có thể tốt với gia đình này và bất lợi với gia đình khác. Tình huống một: vợ chồng ngoài ba mươi, khoẻ mạnh, hai con nhỏ, cả hai có việc văn phòng với bảo hiểm tốt qua chủ lao động ở Mỹ. Với họ, khác biệt về y tế giữa Mỹ và Canada không lớn trong sinh hoạt hằng ngày; điều cần để ý là rủi ro mất bảo hiểm khi mất việc.
Tình huống hai: gia đình muốn bảo lãnh cha mẹ ngoài sáu mươi lăm, mẹ có bệnh tim đang điều trị. Ở Mỹ, giai đoạn trước khi cha mẹ đủ điều kiện các chương trình công có thể tốn kém; ở Canada và Úc, cha mẹ khi có thường trú được vào bảo hiểm công, nhưng hồ sơ phải vượt yêu cầu sức khoẻ trước, và có những diện cha mẹ chờ rất lâu hoặc đòi khoản đóng góp lớn. Với gia đình này, y tế có thể là tiêu chí quyết định chọn nước.
Tình huống ba: một người lao động tự do, thu nhập không đều, có con bị hen suyễn. Ở nước có bảo hiểm công gắn với cư trú, thu nhập không đều ít ảnh hưởng tới quyền khám chữa bệnh; ở hệ dựa vào bảo hiểm qua việc làm, người này phải tự mua và tự tính khoản chi trả cho đợt bệnh nặng. Ba tình huống cho thấy câu hỏi đúng không phải "hệ nào tốt hơn" mà là "hệ nào hợp với sức khoẻ, tuổi tác và kiểu thu nhập của nhà mình".
Yêu cầu sức khoẻ trong hồ sơ di trú: chỗ bệnh mãn tính bị hỏi
Mọi hồ sơ định cư đều có khám sức khoẻ. Khám do bác sĩ được cơ quan di trú chỉ định thực hiện, gồm khám lâm sàng, chụp X-quang ngực, xét nghiệm theo độ tuổi, và với Mỹ là kiểm tra tiêm chủng theo danh mục bắt buộc cho visa định cư.
Canada, Úc, New Zealand xét gánh nặng chi phí. Ngoài bệnh truyền nhiễm, ba nước này xét liệu tình trạng sức khoẻ có khả năng tạo chi phí y tế, dịch vụ xã hội vượt một ngưỡng do chính phủ đặt hay không. Canada gọi là "excessive demand"; Úc và New Zealand có khái niệm tương tự. Bệnh mãn tính cần điều trị tốn kém có thể khiến hồ sơ bị từ chối, và ở nhiều diện, một thành viên không đạt có thể ảnh hưởng cả gia đình.
Mỹ chú ý tới bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng và gánh nặng công. Khám sức khoẻ cho visa định cư Mỹ tập trung vào các bệnh có ý nghĩa y tế công cộng, rối loạn có hành vi nguy hại và tiêm chủng. Khả năng trở thành gánh nặng công được xét qua tổng thể hoàn cảnh, trong đó có cam kết bảo trợ tài chính.
Không giấu bệnh. Khai không đúng tình trạng sức khoẻ là khai man, hậu quả nặng hơn nhiều so với việc bị hỏi thêm. Với bệnh mãn tính đang kiểm soát tốt, hồ sơ bệnh án đầy đủ và kế hoạch điều trị rõ ràng thường giúp ích hơn là cố tránh nhắc tới.
Chuẩn bị y tế cho gia đình trước khi đi
Dù chọn nước nào, những việc dưới giúp giai đoạn chuyển tiếp an toàn hơn, nhất là với người lớn tuổi và người có bệnh mãn tính:
- Xin tóm tắt hồ sơ bệnh án, đơn thuốc đang dùng (ghi tên hoạt chất, không chỉ tên thương mại) và kết quả xét nghiệm gần nhất, dịch sang tiếng Anh hoặc ngôn ngữ nước đến.
- Mang đủ thuốc cho giai đoạn đầu trong giới hạn hải quan cho phép, kèm đơn thuốc; kiểm danh mục thuốc hạn chế của nước đến.
- Kiểm thời gian chờ trước khi bảo hiểm công có hiệu lực và mua bảo hiểm tư cho khoảng trống đó.
- Tìm bác sĩ gia đình sớm; ở nhiều nơi danh sách nhận bệnh nhân mới rất dài.
- Với cha mẹ được bảo lãnh, tính chi phí bảo hiểm và khám chữa bệnh cho đến khi họ đủ điều kiện các chương trình công, đưa khoản này vào ngân sách gia đình.
- Hoàn tất tiêm chủng theo danh mục của nước đến cho trẻ, giữ sổ tiêm chủng có bản dịch để nộp cho trường.
Chuẩn bị này mất vài buổi ở Việt Nam, nhưng tiết kiệm được nhiều tuần lúng túng và những khoản chi không lường trước ở nước mới.
Câu hỏi thường gặp
Cha mẹ sang Mỹ theo diện bảo lãnh có được bảo hiểm y tế miễn phí không?
Thường là không ngay. Nhiều thường trú nhân mới phải chờ nhiều năm mới đủ điều kiện Medicaid, và Medicare đòi từ 65 tuổi cùng thời gian cư trú hoặc đóng thuế. Giai đoạn đầu thường phải mua bảo hiểm trên sàn bảo hiểm, có thể được trợ cấp theo thu nhập.
Bệnh tiểu đường, huyết áp có làm hồ sơ định cư bị từ chối không?
Bệnh mãn tính kiểm soát tốt bằng thuốc thông thường thường ít khi tự nó dẫn tới từ chối. Rủi ro tăng khi bệnh cần điều trị tốn kém như lọc máu, thuốc đặc trị. Với Canada, Úc, New Zealand nên nhờ luật sư đánh giá trước dựa trên hồ sơ bệnh án thật.
Có thường trú Canada mà sống ở Việt Nam thì về khám có được bảo hiểm tỉnh không?
Quyền lợi bảo hiểm tỉnh thường đòi người hưởng cư trú thật tại tỉnh, mỗi tỉnh có quy định riêng về thời gian được vắng mặt. Sống phần lớn ở Việt Nam có thể khiến bạn mất quyền lợi. Kiểm trang y tế của tỉnh nơi đăng ký.
Có nên mua bảo hiểm y tế tư dù nước đến có bảo hiểm công không?
Nên cân nhắc cho giai đoạn chờ bảo hiểm công có hiệu lực, cho các khoản bảo hiểm công không chi trả như thuốc, nha khoa, và khi muốn rút ngắn hàng chờ. Ở Úc, người thu nhập cao không có bảo hiểm tư còn có thể phải đóng thêm phụ phí.
Khám sức khoẻ di trú ở Việt Nam làm ở đâu?
Phải làm tại cơ sở hoặc bác sĩ được chính cơ quan di trú của nước đến chỉ định, không làm ở bệnh viện tuỳ chọn. Danh sách bác sĩ được chỉ định đăng trên trang của Lãnh sự quán Mỹ, canada.ca hoặc immi.homeaffairs.gov.au tuỳ nước.
Hệ thống y tế nước nào tốt nhất cho người già?
Không có câu trả lời chung. Hệ có bảo hiểm công giúp chi phí dễ lường nhưng có thể chờ lâu; hệ Mỹ nhanh và nhiều lựa chọn nếu có bảo hiểm tốt nhưng chi phí cao. Với người già, quan trọng nhất là thời điểm họ đủ điều kiện hưởng chương trình công ở nước đó.