So chi phí sống giữa các nước định cư phải so theo từng cấu phần — nhà ở, thuế, bảo hiểm y tế, giữ trẻ, đi lại — vì đây là những khoản quyết định mức sống, và mỗi nước "đắt" ở chỗ khác nhau. Mỹ thường nặng ở bảo hiểm y tế và học phí đại học; Canada, Úc nặng ở giá nhà các thành phố lớn; nhiều nước châu Âu nặng ở thuế nhưng đổi lại có dịch vụ công rộng. Một con số "chi phí sống trung bình của nước X" che mất gần hết những khác biệt này.
Bài này không đưa bảng giá — giá thuê nhà, giá giữ trẻ đổi theo từng năm và từng khu phố, và một bảng giá cụ thể sẽ cũ trước khi bạn kịp dùng. Thay vào đó, bài chỉ ra cấu phần nào lớn ở nước nào, các bẫy khi so sánh, một ví dụ giả định về cách lập ngân sách, và nơi lấy số liệu chính thức để tự tính cho gia đình mình.
Vì sao quy đổi tỷ giá là phép so sai
Phép so phổ biến nhất — lấy lương hay giá một món đồ ở nước ngoài nhân tỷ giá rồi so với Việt Nam — sai ở gốc. Khi định cư, bạn kiếm và tiêu cùng một đồng tiền. Câu hỏi đúng không phải là "một tháng ở Toronto tốn bao nhiêu triệu đồng", mà là "với thu nhập mà mình có khả năng kiếm được ở Toronto, mình sống được ở mức nào".
Khái niệm cần dùng là sức mua: thu nhập sau thuế trừ đi các khoản bắt buộc (nhà, bảo hiểm, giữ trẻ, đi lại) còn lại bao nhiêu cho những thứ khác. Hai gia đình cùng mức lương ở hai thành phố có thể có phần còn lại chênh nhau rất nhiều chỉ vì tiền thuê nhà.
Phép quy đổi chỉ đúng trong một trường hợp: khi thu nhập của bạn vẫn đến từ Việt Nam bằng tiền đồng, như gia đình hai nước có người trụ lại làm ăn. Khi đó tỷ giá thật sự quan trọng, và biến động tỷ giá trở thành một rủi ro cần tính vào ngân sách.
Nước nào nặng ở khoản nào
Bảng dưới mô tả cấu trúc chi phí theo nguyên lý, không phải giá cụ thể. Trong cùng một nước, chênh lệch giữa thành phố lớn và thành phố nhỏ thường lớn hơn chênh lệch giữa các nước.
| Khoản | Mỹ | Canada | Úc | Tây Âu, Bắc Âu |
|---|---|---|---|---|
| Nhà ở | Rất khác giữa các bang; ven biển đắt, nhiều bang miền Trung và miền Nam rẻ hơn | Toronto, Vancouver thuộc loại đắt nhất so với thu nhập; tỉnh khác dễ thở hơn | Sydney, Melbourne đắt; các thủ phủ khác và vùng ngoài thủ phủ rẻ hơn | Thủ đô và thành phố lớn đắt; nhiều nước có nhà ở xã hội |
| Thuế thu nhập | Liên bang cộng bang; một số bang không thu thuế thu nhập | Liên bang cộng tỉnh | Thuế liên bang luỹ tiến, cộng phí Medicare | Thường cao, đổi lại dịch vụ công rộng |
| Thuế tiêu dùng | Thuế bán hàng do bang, quận đặt, cộng vào lúc thanh toán | GST liên bang cộng thuế tỉnh, có tỉnh gộp thành HST | GST 10%, thường đã gồm trong giá niêm yết | VAT thường cao, đã gồm trong giá |
| Y tế | Khoản lớn: bảo hiểm qua chủ lao động hoặc tự mua, kèm đồng chi trả | Bảo hiểm công của tỉnh; thuốc, nha khoa, mắt thường tự lo hoặc qua chủ lao động | Medicare công; nhiều người mua thêm bảo hiểm tư | Bảo hiểm công hoặc bắt buộc, đóng qua lương |
| Giữ trẻ trước tuổi đi học | Thường rất đắt, ít trợ cấp | Đang giảm phí qua chương trình liên bang triển khai theo tỉnh | Có trợ cấp giữ trẻ theo thu nhập | Nhiều nước trợ cấp mạnh |
| Đi lại | Hầu như cần xe hơi ngoài vài thành phố lớn | Cần xe ở phần lớn nơi, trừ trung tâm thành phố lớn | Cần xe ở phần lớn vùng ngoại ô | Giao thông công cộng tốt, nhiều gia đình không cần xe |
Đọc bảng theo hàng sẽ thấy không nước nào rẻ ở mọi khoản. Gia đình có con nhỏ cần giữ trẻ sẽ thấy cấu trúc chi phí khác hẳn gia đình có con đã đi học; gia đình có người cao tuổi bệnh mãn tính sẽ thấy khoản y tế quyết định.
Những khoản người mới sang hay bỏ sót
Chi phí khởi đầu. Tiền đặt cọc thuê nhà, tháng thuê đầu tiên, đồ đạc cơ bản, xe hơi, đăng ký điện nước internet, đồ mùa đông ở các nước lạnh. Những khoản này dồn vào hai ba tháng đầu và có thể bằng cả năm chi tiêu ở Việt Nam.
Thiếu lịch sử tín dụng. Người mới đến chưa có điểm tín dụng, nên chủ nhà có thể đòi đặt cọc cao hơn hoặc trả trước nhiều tháng; mua xe trả góp, làm thẻ tín dụng khó hơn và lãi cao hơn. Đây là chi phí ẩn của năm đầu.
Khoảng trống thu nhập. Ít ai có việc ngay tuần đầu. Ngân sách phải gánh vài tháng không có lương, có khi lâu hơn nếu người đi làm chờ công nhận bằng cấp.
Bảo hiểm trong giai đoạn chờ. Một số tỉnh, bang có thời gian chờ trước khi bảo hiểm công có hiệu lực, hoặc người có visa tạm trú phải mua bảo hiểm tư. Không tính khoản này là rủi ro tài chính lớn nếu có người ốm.
Chi phí giữ liên hệ với Việt Nam. Vé máy bay về thăm, chuyển tiền phụng dưỡng cha mẹ, chi phí giữ nhà ở Việt Nam. Nhiều gia đình tính sai mức sống vì quên rằng họ vẫn có nghĩa vụ ở quê nhà.
Ví dụ giả định: lập ngân sách tháng cho gia đình bốn người
Ví dụ giả định, chỉ để minh hoạ cách làm, không phản ánh giá thật của nơi nào. Gia đình anh D, chị E, hai con 6 và 10 tuổi, dự định sang một thành phố cỡ vừa. Họ lập ngân sách theo các bước:
- Tra giá thuê căn hộ hai, ba phòng ngủ đang đăng ở đúng khu có trường tiểu học mà họ muốn, lấy mức giữa của mười tin đăng chứ không lấy mức rẻ nhất.
- Ước tính thu nhập sau thuế của người có khả năng có việc trước, dùng công cụ tính thuế của cơ quan thuế nước đó, với mức lương khởi điểm thận trọng cho người mới đến, không phải mức trung bình ngành.
- Liệt kê khoản bắt buộc: nhà, điện nước sưởi, bảo hiểm (y tế, xe, nhà), đi lại, điện thoại, chăm sóc con sau giờ học. Trừ khỏi thu nhập sau thuế.
- Ước tính thực phẩm và sinh hoạt bằng cách đi siêu thị online của nước đó, cho vào giỏ những món gia đình thật sự hay mua trong một tuần, nhân bốn.
- Cộng chi phí khởi đầu và chia cho mười hai tháng, coi như khoản trả góp năm đầu.
- So phần còn lại với khoản tiết kiệm mang theo. Nếu phần còn lại âm, tính xem tiết kiệm đủ gánh bao nhiêu tháng; nếu ít hơn sáu tháng thì kế hoạch quá mong manh.
Kết quả của ví dụ giả định này thường bất ngờ với gia đình anh D: khoản nhà chiếm phần lớn thu nhập của một người, và kế hoạch chỉ đứng vững khi chị E cũng có việc trong năm đầu. Biết điều đó trước khi đi giúp họ chuẩn bị đúng — chị E học trước chứng chỉ nghề phù hợp, hoặc gia đình chọn thành phố có giá nhà mềm hơn.
Chi phí đổi theo giai đoạn: năm đầu, khi ổn định, khi về già
Một bảng so sánh chi phí sống thường chụp một khoảnh khắc. Thực tế, cấu trúc chi phí của một gia đình định cư đổi qua ít nhất ba giai đoạn, và nước nào "rẻ" ở giai đoạn này có thể "đắt" ở giai đoạn khác.
Năm đầu là giai đoạn đắt nhất ở mọi nước: chi phí khởi đầu, thu nhập chưa ổn định, chưa có tín dụng, chưa quen nơi mua sắm rẻ. Ở giai đoạn này, nước có chương trình hỗ trợ người mới đến, giữ trẻ được trợ cấp và bảo hiểm công có hiệu lực sớm giúp đỡ gánh nhiều nhất.
Khi đã ổn định — có việc đúng ngành, có lịch sử tín dụng, con đã đi học — thu nhập và mức thuế trở thành yếu tố chính. Nước thuế thấp, lương cao như Mỹ thường có lợi cho gia đình hai người đi làm thu nhập tốt và có bảo hiểm y tế tốt qua chủ lao động. Nước thuế cao có lợi hơn cho gia đình có nhiều con nhỏ hoặc thu nhập trung bình, nhờ trợ cấp và dịch vụ công.
Khi về già, y tế và lương hưu lên vị trí số một. Người định cư ở tuổi trung niên thường đóng góp vào hệ thống lương hưu công ít năm hơn, nên quyền lợi cũng ít hơn; một số nước có hiệp định an sinh xã hội cho phép cộng thời gian đóng ở nước khác, nhưng Việt Nam chỉ có hiệp định với một số ít nước. Gia đình nên tính giai đoạn này ngay từ khi chọn nước, vì đó là giai đoạn dài nhất của đời sống định cư.
Thành phố nào trong cùng một nước: lựa chọn quan trọng hơn nước nào
Khi đã có giấy tờ định cư, nơi sống cụ thể thường quyết định chi phí nhiều hơn quốc gia. Một gia đình có thường trú Canada có thể chọn Toronto, Vancouver với cơ hội việc làm và cộng đồng Việt lớn, hoặc Calgary, Edmonton, Winnipeg, Halifax với giá nhà mềm hơn. Ở Úc, khác biệt giữa Sydney và Adelaide hay Perth cũng tương tự; ở Mỹ, khác biệt giữa California và Texas là ví dụ quen thuộc.
Một số diện định cư gắn bạn với một vùng: đề cử tỉnh bang của Canada thường kỳ vọng bạn sống ở tỉnh đề cử; visa tay nghề vùng của Úc yêu cầu sống và làm việc ở vùng được chỉ định trong một thời gian. Đây vừa là ràng buộc vừa có thể là cơ hội, vì vùng được ưu tiên thường có chi phí thấp hơn.
Khi so, đừng chỉ nhìn giá nhà. Thành phố nhỏ có thể có ít việc đúng ngành, ít trường lựa chọn, cộng đồng Việt nhỏ, chuyến bay về Việt Nam phải nối chặng. Ba bốn yếu tố này cộng lại có thể làm một nơi rẻ hơn trên giấy trở thành nơi đắt hơn trong thực tế.
Lấy số liệu ở đâu cho đáng tin
Trang tổng hợp chi phí sống do người dùng đóng góp hữu ích để tham khảo nhanh nhưng dễ lệch. Với quyết định lớn, nên đối chiếu thêm các nguồn chính thức hoặc gần chính thức:
- Cơ quan thống kê quốc gia: Statistics Canada, Cục Thống kê Úc (ABS), Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) với khảo sát chi tiêu người tiêu dùng, Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS). Các cơ quan này công bố chỉ số giá và cơ cấu chi tiêu hộ gia đình.
- Trang hướng dẫn cho người mới đến của chính phủ: Canada, Úc, New Zealand đều có mục dành cho người nhập cư, thường kèm ước tính chi phí ban đầu và các khoản cần chuẩn bị.
- Công cụ tính thuế chính thức của cơ quan thuế từng nước, để ước tính lương thực nhận.
- Tin đăng thuê nhà thật ở đúng khu định sống, thay cho mức trung bình toàn thành phố.
- Biểu phí giữ trẻ của vài cơ sở cụ thể và chính sách trợ cấp giữ trẻ của bang, tỉnh.
Ghi ngày tra cứu cạnh mỗi con số. Ngân sách định cư thường được lập trước khi đi cả năm, và giá cả trong một năm có thể đổi đáng kể.
Câu hỏi thường gặp
Nước nào có chi phí sống thấp nhất cho người Việt định cư?
Không có câu trả lời chung. Chi phí phụ thuộc chủ yếu vào thành phố, tình trạng gia đình và thu nhập bạn có thể kiếm ở đó. Một thành phố nhỏ ở nước có chi phí cao có thể dễ sống hơn thành phố lớn ở nước có chi phí trung bình.
Nên mang theo bao nhiêu tiền tiết kiệm khi sang?
Nguyên tắc thận trọng là đủ chi phí khởi đầu cộng ít nhất sáu đến mười hai tháng chi tiêu không có thu nhập. Một số diện tay nghề có mức chứng minh tài chính tối thiểu do chính phủ quy định; đó là mức sàn để được duyệt, không phải mức đủ để sống thoải mái.
Có nên mua nhà ngay khi mới sang không?
Thường nên thuê một thời gian để hiểu khu phố, trường học và công việc ổn định trước. Người mới đến chưa có lịch sử tín dụng và thu nhập địa phương nên vay mua nhà khó hơn. Một số nước cũng có quy định riêng về người nước ngoài mua nhà.
Thuế cao ở châu Âu có làm mức sống thấp hơn Mỹ không?
Không nhất thiết. Thuế cao thường đi kèm y tế, giáo dục, giữ trẻ được trợ cấp, những khoản ở Mỹ phải tự trả. So phần thu nhập còn lại sau khi đã trả mọi khoản bắt buộc mới thấy được mức sống thật.
Người lớn tuổi sang theo con có làm tăng chi phí nhiều không?
Có thể tăng đáng kể, chủ yếu qua y tế. Ở một số nước, cha mẹ được bảo lãnh không được hưởng bảo hiểm công ngay hoặc phải mua bảo hiểm tư. Nên tính khoản này riêng trước khi bảo lãnh.
Có nên tin bảng so sánh chi phí sống giữa các thành phố trên mạng không?
Dùng để có hình dung ban đầu thì được. Nhưng nhiều bảng dựa trên đóng góp tự nguyện, mẫu nhỏ và không cập nhật đều. Với quyết định định cư, nên tự lập ngân sách từ giá thuê nhà thật và công cụ tính thuế chính thức.