Định cư Thụy Sĩ khó với người Việt hơn phần lớn các nước Tây Âu. Thụy Sĩ không thuộc EU nhưng có hiệp định tự do đi lại với EU, nên thị trường lao động mở rộng cho người EU và EFTA, còn người từ các nước khác như Việt Nam chỉ được nhận khi là nhà quản lý, chuyên gia hoặc người có trình độ cao, trong giới hạn hạn ngạch hằng năm, và sau khi chủ lao động chứng minh không tuyển được người trong nước hoặc từ EU.
Các đường còn lại hẹp hơn: đoàn tụ với người thân đang cư trú, kết hôn với công dân Thụy Sĩ, du học rồi được tuyển ở vị trí có lợi ích khoa học hoặc kinh tế cao, và diện cư trú không đi làm cho người rất giàu theo thuế khoán. Bài này giải thích các loại giấy phép L, B, C, điều kiện thực tế của từng đường, mốc quốc tịch 10 năm và những hiểu lầm thường gặp.
Các loại giấy phép cư trú Thụy Sĩ
Giấy phép ở Thụy Sĩ được gọi bằng chữ cái. Với công dân nước thứ ba (ngoài EU/EFTA), ba loại quan trọng nhất là:
| Loại | Bản chất | Thời hạn thường gặp | Ý nghĩa với người Việt |
|---|---|---|---|
| L | Cư trú ngắn hạn, gắn với một hợp đồng hoặc mục đích cụ thể | Dưới một năm, gia hạn có giới hạn | Ít khi dẫn tới định cư; dùng cho dự án, biệt phái ngắn |
| B | Cư trú có thời hạn cho người đi làm, đoàn tụ, du học | Thường một năm, gia hạn theo điều kiện | Nấc chính của người đi làm và gia đình; phải giữ lý do cư trú |
| C | Định cư (Niederlassungsbewilligung), không thời hạn về quyền ở | Không gắn với một công việc | Mục tiêu dài hạn; thường sau khoảng 10 năm với người Việt |
| Ci, G, F, N | Các loại đặc biệt (gia đình nhân viên tổ chức quốc tế, người lao động qua biên giới, tạm nhận, xin tị nạn) | Khác nhau | Ít liên quan tới định cư thông thường |
Thẻ B cấp cho sinh viên không đổi tự động thành thẻ B lao động; mỗi lần đổi mục đích cư trú là một quyết định mới của cơ quan di trú bang. Thẻ C cũng không phải quốc tịch: người có C vẫn phải đáp ứng điều kiện hội nhập, và có thể bị hạ xuống B nếu hội nhập không đạt theo luật Hội nhập áp dụng từ năm 2019.
Đi làm ở Thụy Sĩ: ba lớp sàng lọc với người ngoài EU
Lớp thứ nhất là trình độ. Luật cho phép nhận người lao động nước thứ ba chủ yếu khi họ là quản lý, chuyên gia hoặc người có trình độ cao, thường có bằng đại học và kinh nghiệm nhiều năm. Công việc phổ thông, kể cả trong ngành đang thiếu người, gần như không mở cho người Việt.
Lớp thứ hai là ưu tiên trong nước. Chủ lao động phải chứng minh đã tìm người trong thị trường Thụy Sĩ và EU/EFTA mà không được: đăng tuyển đủ thời gian, giải thích vì sao ứng viên địa phương không phù hợp. Mức lương và điều kiện làm việc phải tương đương thông lệ của ngành, vùng.
Lớp thứ ba là hạn ngạch. Hội đồng Liên bang đặt hạn ngạch hằng năm cho giấy phép B và L cấp cho lao động nước thứ ba, chia cho các bang. Khi hạn ngạch của bang hết, hồ sơ phải chờ hoặc chuyển sang phần dự trữ liên bang. Con số cụ thể thay đổi theo năm; tra trên trang của Văn phòng Di trú Liên bang (sem.admin.ch).
Quy trình đi theo chiều: chủ lao động nộp đơn xin giấy phép lao động tại cơ quan thị trường lao động của bang, bang chuyển hồ sơ để Văn phòng Di trú Liên bang chấp thuận, sau đó người lao động mới nộp thị thực dài hạn (loại D) tại cơ quan đại diện Thụy Sĩ ở Việt Nam. Người lao động không thể tự “xin visa đi làm” khi chưa có chủ lao động đứng ra.
Thực tế người Việt đi bằng đường này thường đã làm cho tập đoàn đa quốc gia (biệt phái nội bộ), có tiến sĩ hoặc kinh nghiệm hiếm trong dược, tài chính, kỹ thuật, công nghệ, hoặc được tuyển sau khi học ở Thụy Sĩ.
Du học rồi ở lại: lối hẹp nhưng có thật
Sáu tháng tìm việc. Người tốt nghiệp đại học ở Thụy Sĩ được phép ở lại một thời gian ngắn (khoảng sáu tháng theo quy định) để tìm việc phù hợp với bằng cấp. Đây là ngoại lệ đáng giá vì sinh viên nước thứ ba trước đó không có lối riêng.
Ngoại lệ ưu tiên trong nước. Người tốt nghiệp đại học Thụy Sĩ có thể được nhận mà không phải qua đủ bước ưu tiên người trong nước nếu công việc có lợi ích khoa học hoặc kinh tế cao. Bang vẫn xét, và hạn ngạch vẫn áp dụng.
Thời gian học không tính đủ. Những năm cư trú với mục đích học tập thường chỉ được tính vào thời gian xét giấy phép C khi, sau khi học xong, người đó tiếp tục cư trú liên tục thêm một thời gian với giấy phép khác. Người học cần tính lộ trình dài hơn so với nước khác và hỏi cơ quan di trú bang cách đếm cho trường hợp của mình.
Chọn ngành theo nhu cầu. Các ngành có cơ hội ở lại là những ngành mà Thụy Sĩ khó tuyển đủ người: kỹ thuật, khoa học máy tính, dược và khoa học sự sống, tài chính định lượng. Học quản trị khách sạn, dù Thụy Sĩ nổi tiếng về ngành này, thường không dẫn tới giấy phép lao động cho người ngoài EU vì công việc trong ngành ít được coi là trình độ cao.
Ngôn ngữ của bang. Thụy Sĩ có bốn ngôn ngữ chính thức; bang bạn ở quyết định ngôn ngữ dùng trong hội nhập (tiếng Đức, Pháp hoặc Ý). Học tiếng bang ngay trong thời gian du học là điều kiện ngầm của mọi bước sau.
Đoàn tụ gia đình và kết hôn
Người có giấy phép B được đưa vợ hoặc chồng và con dưới 18 tuổi sang nếu cùng sống chung, có nhà ở phù hợp, đủ tài chính để không phụ thuộc trợ cấp xã hội, và người được bảo lãnh có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ của bang hoặc đã đăng ký khoá học tiếng. Hồ sơ phải nộp trong thời hạn nhất định kể từ khi người bảo lãnh nhận giấy phép hoặc từ khi quan hệ gia đình phát sinh; quá hạn thì chỉ được xét khi có lý do gia đình quan trọng.
Người có giấy phép C và công dân Thụy Sĩ có quyền đoàn tụ rộng hơn, nhưng các điều kiện chung sống, nhà ở, tài chính và ngôn ngữ vẫn được kiểm. Con lớn hơn 12 tuổi có thể bị xét kỹ hơn về khả năng hội nhập nếu đoàn tụ muộn.
Kết hôn với công dân Thụy Sĩ cho phép người phối ngẫu nhận giấy phép B, sau đó xét giấy phép C khi đủ thời gian và điều kiện hội nhập. Đường nhập tịch rút gọn cho vợ chồng công dân Thụy Sĩ đòi tổng thời gian cư trú và số năm kết hôn chung sống theo luật quốc tịch; kiểm điều kiện cụ thể ở sem.admin.ch. Cha mẹ già của người lao động nước thứ ba gần như không có đường đoàn tụ, ngoài thị thực thăm thân ngắn hạn.
Diện cư trú không đi làm và thuế khoán: dành cho ai
Thụy Sĩ có cơ chế thuế khoán theo chi phí sinh hoạt (forfait fiscal, Pauschalbesteuerung) ở nhiều bang: người nước ngoài cư trú nhưng không làm việc có thu nhập ở Thụy Sĩ được đánh thuế dựa trên mức chi tiêu thay vì thu nhập và tài sản toàn cầu. Một số bang đã bỏ cơ chế này qua trưng cầu dân ý, nên đây không phải lựa chọn ở mọi nơi.
Với công dân nước thứ ba, thuế khoán không tự cấp quyền cư trú. Người không đi làm, dưới tuổi nghỉ hưu, muốn sống ở Thụy Sĩ phải được bang và Văn phòng Di trú Liên bang chấp thuận với lý do “lợi ích công quan trọng”, thường là lợi ích tài chính lớn cho bang qua khoản thuế phải nộp. Mức thuế tối thiểu mỗi bang đặt và thương lượng cao; diện này dành cho người có tài sản rất lớn, không phải gia đình trung lưu.
Người từ khoảng 55 tuổi trở lên, không đi làm, có mối liên hệ cá nhân đặc biệt với Thụy Sĩ và đủ tài chính có thể được xét cư trú diện hưu trí. Đây cũng là diện có điều kiện chặt, xét từng hồ sơ, và gần như không có lối cho cha mẹ chỉ muốn sang ở cùng con.
Điều nên nhớ: Thụy Sĩ không có golden visa theo nghĩa mua tài sản để lấy thẻ. Bất kỳ lời chào “đầu tư vào dự án để được giấy phép cư trú Thụy Sĩ” nào cũng cần kiểm lại trực tiếp với cơ quan di trú bang trước khi chuyển tiền.
Giấy phép C và quốc tịch: mốc 10 năm
Với người Việt, mốc thời gian thường gặp nhất là khoảng 10 năm cư trú với giấy phép phù hợp để xét giấy phép C. Một số quốc tịch được xét sau năm năm nhờ hiệp định, Việt Nam không thuộc nhóm này. Người hội nhập tốt (ngôn ngữ đạt mức cao hơn yêu cầu) có thể được xét C sớm hơn. Còn quốc tịch Thụy Sĩ theo luật áp dụng từ năm 2018:
- Phải có giấy phép C tại thời điểm nộp đơn.
- Tổng cộng 10 năm cư trú tại Thụy Sĩ; những năm từ 8 đến 18 tuổi được tính gấp đôi, nhưng phải thực sự ở ít nhất sáu năm.
- Đáp ứng thời gian cư trú tối thiểu tại bang và xã nơi nộp đơn; mỗi bang đặt mức riêng.
- Ngôn ngữ của bang: luật liên bang đặt mức khoảng B1 nói và A2 viết; một số bang đòi cao hơn.
- Hội nhập: tôn trọng trật tự pháp luật, tham gia đời sống kinh tế hoặc học tập, không nhận trợ cấp xã hội trong một số năm trước khi nộp (trừ khi đã hoàn trả).
- Quen thuộc với đời sống ở Thụy Sĩ: nhiều xã phỏng vấn hoặc kiểm tra kiến thức về địa phương, lịch sử, thể chế.
- Ba cấp quyết định: xã, bang và liên bang đều phải chấp thuận. Thời gian xét và lệ phí khác nhau đáng kể giữa các bang.
Thụy Sĩ cho phép giữ hai quốc tịch. Vì quyết định nằm nhiều ở cấp xã, hai người có điều kiện giống nhau nhưng sống ở hai xã khác nhau có thể trải qua quy trình rất khác. Hỏi văn phòng quốc tịch của bang về thủ tục ở xã mình từ sớm là việc nên làm.
Có nên chọn Thụy Sĩ: so với các nước láng giềng
So với Đức, Áo hay Pháp, Thụy Sĩ có lương cao và chất lượng sống tốt, nhưng cũng có chi phí sinh hoạt thuộc hàng cao nhất châu Âu, bảo hiểm y tế cơ bản bắt buộc mua riêng cho từng người, và lộ trình thường trú dài gấp đôi. Đức cho thường trú sau thời gian ngắn hơn nhiều với người có thẻ xanh EU, và quốc tịch sau năm năm; Thụy Sĩ đòi 10 năm và có ba cấp xét duyệt.
Lợi thế của Thụy Sĩ là ổn định: quy định thay đổi chậm, ít đảo chiều đột ngột, và người đã có giấy phép C thì sống rất ổn định. Với người Việt có hợp đồng ở tập đoàn đa quốc gia hoặc có vị trí nghiên cứu, Thụy Sĩ là lựa chọn thực tế. Với người tìm đường định cư cho cả gia đình mà chưa có việc ở đó, các nước EU có thẻ xanh EU, thẻ tìm việc hoặc diện tay nghề mở hơn thường là đường hợp lý hơn.
Một sai lầm cần tránh: coi giấy phép cư trú ở nước Schengen khác là bàn đạp để chuyển sang Thụy Sĩ. Thụy Sĩ thuộc Schengen về đi lại ngắn hạn, nhưng quyền làm việc và cư trú vẫn do Thụy Sĩ cấp riêng; giấy phép của nước EU không cho phép làm việc ở Thụy Sĩ.
Câu hỏi thường gặp
Người Việt có thể xin visa tìm việc ở Thụy Sĩ không?
Thụy Sĩ không có loại thị thực tìm việc dành cho công dân nước thứ ba như thẻ cơ hội của Đức. Người Việt chỉ có thể vào tìm hiểu bằng thị thực Schengen ngắn hạn, không được làm việc. Giấy phép lao động phải do chủ lao động xin trước khi người lao động nhập cảnh để làm việc.
Có thẻ xanh EU của Đức thì có được làm việc ở Thụy Sĩ không?
Không. Thẻ xanh EU là giấy phép của nước EU cấp và chỉ có quyền di chuyển giữa các nước EU áp dụng chỉ thị này. Thụy Sĩ không thuộc EU nên không áp dụng; muốn làm việc ở Thụy Sĩ phải được cấp giấy phép theo luật Thụy Sĩ, qua hạn ngạch và ưu tiên trong nước như mọi người ngoài EU khác.
Học thạc sĩ ở Thụy Sĩ có được làm thêm không?
Sinh viên nước thứ ba thường được làm thêm có giới hạn giờ trong tuần sau một thời gian học nhất định, và toàn thời gian trong kỳ nghỉ, theo quy định của bang. Thu nhập làm thêm hiếm khi đủ chi phí sinh hoạt rất cao ở Thụy Sĩ, nên hồ sơ thị thực du học vẫn phải chứng minh đủ tài chính từ đầu.
Có giấy phép C rồi đi khỏi Thụy Sĩ lâu có mất không?
Có. Giấy phép C thường hết hiệu lực nếu người giữ rời Thụy Sĩ liên tục quá sáu tháng mà không báo, hoặc chuyển trung tâm cuộc sống ra nước ngoài. Có thể xin giữ giấy phép khi vắng mặt lâu hơn theo thủ tục báo trước. Người đi về hai nơi cần hỏi cơ quan di trú bang trước khi đi dài ngày.
Nhập tịch Thụy Sĩ có phải bỏ quốc tịch Việt Nam không?
Thụy Sĩ không bắt bỏ quốc tịch gốc. Việc giữ quốc tịch Việt Nam phụ thuộc luật Việt Nam; Luật Quốc tịch Việt Nam cho phép giữ trong một số trường hợp và có thủ tục riêng. Người muốn giữ cả hai nên hỏi cơ quan đại diện Việt Nam trước khi nhận quốc tịch Thụy Sĩ.
Bao lâu thì đi lại được cả khu Schengen với giấy phép B Thụy Sĩ?
Ngay khi có giấy phép B còn hạn. Thụy Sĩ thuộc khu Schengen nên người có giấy phép cư trú Thụy Sĩ cùng hộ chiếu hợp lệ được đi các nước Schengen khác tối đa 90 ngày trong 180 ngày cho mục đích ngắn hạn. Việc làm việc hay cư trú dài ở nước đó vẫn cần giấy phép riêng.