Visa không định cư Mỹ là các loại thị thực cho phép vào Mỹ có thời hạn với một mục đích cụ thể; những loại người Việt dùng nhiều nhất là B1/B2 (công tác, du lịch, thăm thân), F-1 (du học), J-1 (trao đổi), H-1B (lao động chuyên môn), L-1 (điều chuyển nội bộ) và O-1 (năng lực đặc biệt). Mỗi ký hiệu là một bộ quy tắc riêng về ai được xin, được làm gì, ở bao lâu, đưa ai theo.
Thay vì học thuộc danh sách hơn hai mươi chữ cái, cách đọc nhanh nhất là đặt bốn câu hỏi cho mỗi loại: có cần ai ở Mỹ nộp đơn bảo lãnh trước không; có được làm việc nhận lương không; vợ chồng con cái có đi theo được không và họ được làm gì; có được mang "ý định định cư" khi xin không. Bài này đi qua từng nhóm theo bốn câu hỏi đó.
Điểm chung của mọi visa không định cư
Luật Di trú và Quốc tịch Mỹ mặc định mọi người xin visa là người có ý định định cư, cho tới khi họ chứng minh ngược lại. Đó là nội dung của điều 214(b), lý do từ chối phổ biến nhất ở các nơi phỏng vấn. Với phần lớn visa không định cư, bạn phải cho thấy mình có nơi ở ổn định ngoài nước Mỹ và sẽ về khi xong mục đích.
Thứ hai, tem visa chỉ là giấy phép xin vào cửa. Thời gian được ở do nhân viên CBP quyết định khi bạn nhập cảnh và ghi trong hồ sơ I-94 điện tử. Một visa B1/B2 có thể còn hạn nhiều năm, nhưng mỗi lần nhập cảnh bạn chỉ được ở theo I-94 của lần đó.
Thứ ba, mục đích là ranh giới cứng. Dùng visa du lịch để đi làm, dùng visa học sinh để làm toàn thời gian ngoài trường, hay dùng visa thực tập để làm cho công ty khác là vi phạm điều kiện tình trạng. Vi phạm có thể dẫn tới huỷ visa, mất tình trạng và ảnh hưởng mọi lần xin sau.
Thứ tư, mức tối đa về thời hạn tem và số lần nhập cảnh cho công dân Việt Nam được quy định trong bảng có đi có lại của Bộ Ngoại giao Mỹ, đổi theo từng thời kỳ. Bảng chi tiết từng loại visa nằm ở trang Reciprocity của Việt Nam trên travel.state.gov.
Nhóm đi lại ngắn: B-1, B-2, C-1 và D
B-1 công tác. Họp với đối tác, đàm phán hợp đồng, dự hội nghị, khảo sát thị trường, nhận chỉ dẫn kỹ thuật ngắn. Không được làm việc sản xuất hay nhận lương từ nguồn ở Mỹ. Không cần ai nộp đơn trước; xin thẳng ở Lãnh sự quán.
B-2 du lịch, thăm thân, chữa bệnh. Loại visa người Việt xin nhiều nhất. Thường cấp gộp thành B1/B2 trên cùng một tem. Không được làm việc, không được học chương trình lấy tín chỉ; khoá học ngắn mang tính giải trí thì được.
C-1 quá cảnh. Chỉ đi ngang qua Mỹ để sang nước thứ ba, thời gian ở rất ngắn. Người đã có B1/B2 thì không cần C-1. Không đổi diện được khi đang ở Mỹ.
D thuyền viên, tổ bay. Dành cho người làm việc trên tàu biển hoặc máy bay cập cảng Mỹ, thường cấp kèm C-1 thành C1/D. Không dùng để đi du lịch hay ở lại làm việc trên bờ.
Gia đình đi kèm. Nhóm này không có diện phụ thuộc: vợ chồng con cái muốn đi cùng phải tự xin visa B của mình, với hồ sơ riêng.
Nhóm học tập và trao đổi: F-1, M-1, J-1
Ba loại này đều cần một cơ sở ở Mỹ cấp giấy trước khi bạn xin visa và đều đóng phí SEVIS, nhưng quyền làm việc và nghĩa vụ sau chương trình khác nhau khá xa.
| Tiêu chí | F-1 | M-1 | J-1 |
|---|---|---|---|
| Giấy cần trước | I-20 của trường được SEVP chứng nhận | I-20 của trường nghề | DS-2019 của nhà tài trợ được Bộ Ngoại giao chỉ định |
| Đối tượng | Học đại học, sau đại học, phổ thông tư thục, học tiếng chuyên sâu | Học nghề, kỹ thuật, không học thuật | Học giả, nghiên cứu, thực tập, au pair, giáo viên, sinh viên trao đổi |
| Làm việc | Làm trong trường có giới hạn giờ; CPT; OPT sau tốt nghiệp | Rất hẹp, chỉ thực hành sau khoá học | Theo đúng chương trình, nhà tài trợ quản lý |
| Người đi kèm | F-2, không được làm việc | M-2, không được làm việc | J-2, được xin giấy phép lao động |
| Ràng buộc sau chương trình | Không có nghĩa vụ về nước riêng | Không có nghĩa vụ về nước riêng | Một số người phải về nước hai năm theo 212(e) |
Người Việt đi học thường chọn F-1. J-1 phù hợp khi bạn đi theo một chương trình có nhà tài trợ, chẳng hạn học bổng chính phủ, chương trình nghiên cứu hay thực tập ngành khách sạn. Điểm cần cân nhắc của J-1 là quy định hai năm về nước nếu chương trình được tài trợ bằng tiền chính phủ hoặc ngành nghề thuộc danh sách kỹ năng của nước bạn; kiểm danh sách hiện hành trên trang J-1 của Bộ Ngoại giao Mỹ.
Nhóm làm việc: cần chủ lao động đứng đơn trước
Khác nhóm du lịch và học tập, hầu hết visa làm việc đòi một chủ lao động ở Mỹ nộp đơn I-129 cho USCIS trước. Chỉ khi đơn được duyệt bạn mới đi phỏng vấn lấy tem. H-1B dành cho công việc đòi bằng cử nhân trở lên đúng chuyên ngành và có hạn ngạch bốc thăm hằng năm. L-1 cho người làm ở công ty ngoài Mỹ được điều sang chi nhánh, công ty mẹ hay công ty con tại Mỹ. O-1 cho người có thành tích nổi bật được ghi nhận rộng trong khoa học, nghệ thuật, kinh doanh, giáo dục, thể thao hay điện ảnh.
Ngoài ra còn H-2A và H-2B cho lao động thời vụ, chỉ mở cho công dân các nước trong danh sách đủ điều kiện mà Bộ An ninh Nội địa công bố định kỳ; P cho vận động viên và nghệ sĩ biểu diễn; Q cho chương trình giao lưu văn hoá. Có những diện chỉ dành cho công dân một số nước theo hiệp định riêng, như TN (Canada, Mexico), E-3 (Úc), H-1B1 (Chile, Singapore), E-1 và E-2 (nước có hiệp ước thương mại với Mỹ). Công dân Việt Nam không dùng các diện này bằng hộ chiếu Việt Nam; người có quốc tịch thứ hai thuộc nước hiệp ước thì xét theo quốc tịch đó.
Cách thức của từng diện lao động, từ đơn chứng nhận điều kiện lao động tới giới hạn đổi chủ, cần một bài riêng. Ở đây chỉ cần nhớ: muốn làm việc hợp pháp ở Mỹ, phải có diện cho phép làm việc và đúng chủ lao động được duyệt.
Người đi kèm: mỗi diện chính có một diện phụ thuộc
Vợ chồng hợp pháp và con chưa kết hôn dưới 21 tuổi của người giữ visa chính thường đi theo bằng diện phụ thuộc. Quyền của người phụ thuộc khác nhau nhiều, và đây là điểm nhiều gia đình chỉ phát hiện ra sau khi đã sang.
| Diện chính | Diện phụ thuộc | Vợ chồng có được làm việc không | Con có được đi học không |
|---|---|---|---|
| F-1 | F-2 | Không | Được học phổ thông; vợ chồng chỉ học bán thời gian |
| J-1 | J-2 | Được, sau khi xin giấy phép lao động từ USCIS | Được |
| H-1B | H-4 | Chỉ khi đủ điều kiện xin giấy phép lao động H-4 | Được |
| L-1 | L-2 | Được làm việc theo tình trạng, theo chính sách USCIS từ cuối 2021 | Được |
| O-1 | O-3 | Không | Được |
Cha mẹ của người giữ visa chính không có diện phụ thuộc. Muốn sang ở cùng, cha mẹ xin B-2 theo từng chuyến và phải chứng minh ý định quay về như mọi người xin du lịch. Người sống chung không kết hôn cũng không được xét diện phụ thuộc; một số trường hợp được xem xét cấp B-2 dài hơn theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao.
Ý định kép: visa nào cho phép tính chuyện thẻ xanh
Nhóm có ý định kép. H-1B và L-1 được luật cho phép vừa giữ visa vừa theo đuổi thường trú. Bạn có hồ sơ thẻ xanh đang chờ vẫn được cấp, gia hạn H-1B hay L-1 và vẫn đi lại được.
O-1 nằm ở giữa. O-1 không đòi bạn chứng minh nơi ở ở nước ngoài như B hay F, nên có hồ sơ thẻ xanh song song thường không làm hỏng việc xin O-1. Tuy vậy, cách xét vẫn tuỳ từng trường hợp.
Nhóm phải chứng minh ý định quay về. B-1, B-2, F-1, M-1, J-1 đều chịu điều 214(b). Có hồ sơ bảo lãnh thẻ xanh đang chờ, chẳng hạn người thân đã nộp I-130 cho bạn, có thể khiến viên chức nghi ngờ ý định quay về.
Đổi ý sau khi nhập cảnh. Vào Mỹ bằng B-2 rồi nhanh chóng kết hôn, nộp hồ sơ định cư có thể bị xem là đã khai sai ý định lúc xin visa. Bộ Ngoại giao có hướng dẫn xem xét các hành vi trái mục đích trong khoảng 90 ngày đầu sau nhập cảnh. Có kế hoạch định cư thì nên chọn đúng diện từ đầu.
Đổi diện ngay trong Mỹ. Nhiều diện cho phép nộp I-539 hoặc I-129 để đổi tình trạng mà không phải về nước, nhưng không phải chiều nào cũng mở. C-1 và D không đổi được; J-1 chịu 212(e) bị chặn sang một số diện cho tới khi được miễn hoặc đã về đủ hai năm.
Chọn loại visa: bắt đầu từ việc bạn sẽ làm ở Mỹ
Cách chọn đúng là bắt đầu từ hoạt động thật bạn sẽ làm hằng ngày ở Mỹ, không phải từ loại visa nghe nói dễ xin. Ví dụ giả định: một kỹ sư ở Bắc Ninh được công ty mẹ ở Hàn Quốc cử sang nhà máy tại Mỹ ba tháng để lắp đặt dây chuyền. Lắp đặt là công việc thật, nên B-1 chỉ hợp khi đúng các trường hợp hẹp mà hướng dẫn của Bộ Ngoại giao cho phép, chẳng hạn lắp đặt thiết bị theo hợp đồng mua bán; nếu là làm việc sản xuất thường xuyên thì phải tính L-1 hoặc diện lao động khác.
Một ví dụ giả định khác: một giảng viên đại học ở Cần Thơ được mời sang nghiên cứu một năm có tài trợ. J-1 diện học giả là lựa chọn tự nhiên, nhưng phải hỏi trước nguồn tài trợ có làm phát sinh nghĩa vụ về nước hai năm không, vì điều này ảnh hưởng mọi kế hoạch sau đó.
Nếu mục đích của bạn trộn lẫn, chẳng hạn vừa họp đối tác vừa du lịch, B1/B2 bao cả hai. Nếu mục đích chuyển sang làm việc nhận lương, không có cách nào "kéo dài" visa du lịch cho hợp lệ. Khi phân vân, đọc mô tả từng loại trên travel.state.gov, mục Directory of Visa Categories, và hỏi luật sư di trú cho trường hợp lao động.
Gia hạn ở lại và đổi tình trạng: được gì ở từng nhóm
Người B-2 cần ở lâu hơn I-94 có thể nộp đơn I-539 xin gia hạn trước ngày I-94 hết hạn, với lý do chính đáng như người thân ốm, điều trị chưa xong. Đơn nộp đúng hạn cho phép ở lại trong lúc chờ, nhưng nếu bị từ chối thì thời gian ở quá hạn có thể tính từ ngày từ chối. Gia hạn liên tục để sống ở Mỹ không phải mục đích của B-2 và thường gây khó cho lần xin visa sau.
Với F-1 và J-1, thời gian ở gắn với chương trình chứ không với ngày cụ thể trên I-94, nên không có thủ tục "gia hạn visa" theo nghĩa thông thường; muốn học lâu hơn thì trường hoặc nhà tài trợ gia hạn I-20, DS-2019. Với H-1B, L-1, O-1, chủ lao động nộp đơn gia hạn I-129.
Tem visa hết hạn trong khi bạn đang ở Mỹ đúng tình trạng không phải là vấn đề, vì tem chỉ dùng để vào cửa. Vấn đề phát sinh khi bạn ra khỏi Mỹ và cần quay lại; lúc đó mới phải xin tem mới ở nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
Visa không định cư và visa định cư khác nhau ở điểm nào?
Visa không định cư cho vào Mỹ có thời hạn với mục đích cụ thể. Visa định cư dẫn tới thẻ xanh ngay khi nhập cảnh, thường qua hồ sơ bảo lãnh gia đình, việc làm hoặc đầu tư, phỏng vấn tại Tổng Lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM với người Việt.
Một người có thể giữ hai visa không định cư cùng lúc không?
Có thể có hai tem còn hạn trong hộ chiếu, ví dụ B1/B2 và F-1. Khi nhập cảnh, bạn phải trình đúng visa theo mục đích chuyến đó và chỉ có một tình trạng tại một thời điểm. Đi học thì nhập cảnh bằng F-1.
Visa B1/B2 có cho phép làm việc từ xa cho công ty Việt Nam khi đang ở Mỹ không?
Đây là vùng chưa có hướng dẫn rõ ràng cho mọi tình huống. Việc nhỏ như trả lời email công việc thường không bị coi là làm việc ở Mỹ, nhưng làm toàn thời gian kéo dài thì rủi ro. Khai thật mục đích chuyến đi và hỏi luật sư nếu dự định làm việc nhiều.
Diện phụ thuộc có cần phỏng vấn riêng không?
Mỗi người có đơn DS-160 riêng và thường phỏng vấn cùng người chính nếu đi cùng lúc. Nếu sang sau, người phụ thuộc tự đặt lịch và mang bằng chứng quan hệ cùng giấy tờ tình trạng của người chính.
Visa không định cư có thể dẫn tới quốc tịch Mỹ không?
Không trực tiếp. Thời gian ở bằng visa không định cư không được tính vào điều kiện nhập tịch. Bạn phải có thẻ xanh trước, rồi mới bắt đầu tính thời gian cư trú để xin quốc tịch theo quy định của USCIS.
Có loại visa nào cho người Việt sang Mỹ tìm việc không?
Không có visa tìm việc. B-1 không cho phép đi phỏng vấn rồi ở lại làm. Đường phổ biến là được chủ lao động bảo lãnh từ xa, hoặc đi học F-1 rồi dùng OPT. Mọi lời mời "sang Mỹ bằng visa du lịch rồi tìm việc" là hướng dẫn vi phạm.